Tuesday, March 19, 2013

CUỘC GIẢI CỨU 3 BIỆT KÍCH TẠI TAM BIÊN

  Toán 723 Đoàn Công Tác 72
      
Đầu năm 1972
PHD: Đ/u Huỳnh Văn Du – Th/U Trần Mộc Đảnh – Th/s Phạm Minh Mẫn – Hs Trần Phát.
     Thời gian này PD 219 có một biệt đội biệt phái tại doanh trại lực lượng đặc biệt, Trại có tên là C2, đồn trú tại đầu phi trường Pleiku trước chợ Cù hanh. (đến ngày 17-3–1973 đoàn Công Tác 75 mới về nơi này và đổi tên trại là LONG BIÊN)
     Hôm đó  Biệt Đội của PD 219 được lệnh đi rước một toán đến ngày về, cùng thời gian này PD 235 Sơn Dương tại Pleiku, cũng đi thả một toán Lôi Hổ, xuất phát từ trại B.15 KonTum, Biệt Đội 219 bốc một toán ở gần sông MeKong , đã đến ngày về, PD 235 thả một toán 10 dặm phía bắc của Phi trường  La Băng Sút Cam Bốt , trên đường cùng đi
PD 235 bắt đầu thả toán, chiếc thứ nhất xuống trước thả 3 troops (sau này tôi mới được biết là thả 6 troops cho 1 trực thăng, nhưng chiếc đầu chỉ mới nhảy xuống 4 troops, 2 troops còn trên tàu nhưng bị tử thương 1 troop ngay trên phi cơ khi cất cánh lên, địch quân bắn theo tơi tả, chiếc thứ hai không xuống được, nhưng họ cũng không chịu đón 4 troops đang nằm chịu trận tại LZ, rồi một BK bị bắn chết tại LZ là Đào Hồng Thủy thuộc CD2XK )
      Đau long vì các Anh Biệt Kích bị bỏ rơi Đ/u Huỳnh Văn Du vừa bay ngang qua đó la lên “Tại sao các ông không chịu đón người ta về “, Trên Phi Cơ quan sát một Tr/u Lôi Hổ tôi quên mất tên có lẽ là Tr/U Nguyễn Hữu Thọ vì anh phát ra giọng bắc nhưng sau này được biết là Đại úy Lê Đình Vũ, Đ/u Vũ nghe được giọng Anh Du, mới yêu cầu …”Anh Du đó phải không, anh có thể giúp đón mấy thằng em về được không Anh Du “ Anh H.DU đồng ý ngay và nói:” Mẫn chú xem hướng mấy giờ “ Tôi trả lời ngay “ hướng 3 giờ đó anh Du” Anh H.Du lập tức rẽ phải và descends xuống ngay LZ và yêu cầu “Cho yểm trợ đi “,trong lúc này trực thăng vũ trang  yểm trợ bắn chung quanh LZ rất ráo riết, LZ rộng như một sân đá bóng, cây cao cũng khoảng từ 20 mét đến 30 mét, khi chúng tôi xuống đến nửa thân cây, tôi trông thấy 3 biệt kích đứng lên chạy về hướng máy bay, thình lình tôi trông tháy rõ ràng, một biệt kích bị bắn vào đầu gối, chỗ vải từ đầu gối tóe ra, anh ta gục xuống, phi cơ đáp  cách chỗ 3 BK khoảng 20 mét, hai BK chạy thẳng đến Phi cơ nhảy lên ngay còn lại một anh BK bị thương, anh ta không đi được, hai tay nắm từng cọng cỏ kéo lê thân mình trườn tới, tôi có cảm giác như PC trúng đạn nhiều nơi, bên vai tôi cái túi treo bịch gạo xấy P.I.R rung rung vì trúng đạn, bịch gạo sấy Tôi mới vừa đổ nước sôi vào và cũng đã nở …bao bị rách mùi gạo sấy P.I.R bốc lên thơm phưng phức, khi anh BK bi thương chụp được vào Skid, Anh H.Du hỏi Tôi “ rồi chưa Mẫn “, Anh Du vội kéo PC lên, Tôi trả lời anh Du “ chưa, chưa, Anh Du “ Anh Du lại lập tức ấn PC xuống, máy bay trườn tới một chút, Tôi và 2 BK trên máy bay kéo được Anh BK bị thương lên PC, Anh H.Du cất cánh ngay, lúc đó địch quân bắn theo dữ dội, Tôi nghe bụp, bụp, nhiều phát , thấy PC khựng lại , rồi bị mất tua, PC như có cái gì  ghì xuống , rồi lại bốc lên, Anh Du la lên “ chết cha …đứt giây gar rồi “. Thật là may mắn vì trên các loại UH.1 khi tay gar bị đứt nó lập tức trở về ngay hệ thống tự động,  vòng tua tự động tăng lên 6,600 RPM, vì vậy nó ghì lại một cái rồi lại bốc lên, chiếc PC chồm lên chồm xuống nhiều lần như  nhẩy qua nhiều con sóng, lết qua khỏi được ngọn cây về hướng bắc của LZ. Trong lúc này gunner Trần Phát bị thương nơi đùi, chui vào phần mềm không trúng xương,, còn hai BK không bị thương  đang băng bó cho đồng đội bị bắn bể khớp gối. chàng BK bị thương la lên một cách tuyệt vọng và đau đớn “bắn tôi chết đi, đau quá, chịu không nổi “ còn gunner trần Phát thì lết qua chỗ tôi nói “ Em bị thương như vậy Phi Đoàn còn cho Em bay nữa không Thượng sĩ “, Tôi vừa lo lại vừa buồn cười, cái chú này đúng là điếc không sợ súng, anh Du  bỗng la lên “ Chết rồi Mẫn ơi đồng hồ Oil Pressure kìa “ Tôi nhìn lên Instrument panel, trông tháy kim đồng hồ Oil Pressure lúc lắc lên xuống vài cái rồi rớt gục hẳn xuống phía dưới. Trong khi đó nhìn xuống phía dưới PC là sân bay La băng Súit, chiếc Trực Thăng của PD 235 bị bắn thủng bình xăng họ bỏ đó, cánh quạt vẫn còn quay tít, có nghĩa là PC chưa tắt máy, Tôi nhìn chiếc trực thăng mà lòng đau sót, Tôi quay qua hỏi anh DU “còn mấy phút thì về tới Phi trường Lệ Minh Anh Du “, Anh Du trả lời “ khoảng 15 phút “Tôi nói “ Anh có thể ráng bay về được không “ Anh Du nói “ được được “ Khi PC bay về đến Phi Trường  Pleizoreng  Lệ Minh đang Hovering trên Parking  tôi nghe một cái ịch PC tắt máy hoàn toàn và rơi xuống đất, thật may chỉ còn cách một mét trên mặt đất, khi xuống đất tôi nhìn lại chỗ tôi ngồi, mới thất thật rùng rợn, giống như họ làm xiếc phóng dao, đạn ghim đầy trên máy bay, chung quanh người Tôi, tôi suy diễn lại như sau: Khi anh Du xuống địch quân nhắm vào Pilot, mục tiêu quá gần, nhưng khi đó anh Du đáp xuống, đạn trợt về phía Tôi trúng cái mũ lưỡi trai và làm bể bịch gạo sấy treo bên cạnh vai Tôi, thấy trật, địch quân trông thấy tôi mặc áo bay đen rất rõ ràng, chúng chỉnh qua hướng Tôi mà nhắm, thì anh Du lại kéo máy bay lên, lần này lại trật nữa, thùng đạn dưới chân tôi bị nhiều lỗ đạn rất sát nhau, thấy trật chúng lại chỉnh lên, anh Du lại ấn PC xuống và PC lại nhích tới phía trước, thế là địch quân lại bắn trật nữa, bên vai phải tôi PC bị nhiều lỗ đạn, đồng hồ áp lực nhớt bị nhịp từ lúc này, sau đó PC cất cánh chúng bắn với theo làm đứt giây gar .
       Sau khi quan sát chỗ tôi ngồi, Tôi mới phát hiện ra lúc đó, tôi đi lại như đi trên mây…hai chân như có tấm đệm, người cứ lâng lâng như bay bổng, tôi đi lại như bị say gió, Có lẽ đây là biểu hiện của sự sợ hãi chăng ?...
       Nhưng qua trận này, chúng Tôi cảm thấy hãnh diện, vì chúng Tôi đã  cứu được Ba chiến hữu Lôi hổ, thậm chí thay vì bỏ máy bay như PD 235 thì chúng Tôi lại cố gắng đem máy bay về căn cứ an toàn (qua lời kể lại của BK Huỳnh Cẩm Sanh DCT.75 Tôi hiểu được sự việc, thì lúc đó trực thăng của PD 235 không thể xuống được nữa họ không sai trong việc này, trên phi cơ của họ một BK bị bắn chết và một NV phi hành bị thương trực thăng bị thủng bìng xăng lúc viết bài này chính tôi đã hồ đồ không hiểu sự tình mong quý vị 235 bỏ qua.)
         MINH MẪN 219


ĐÀO HỒNG THỦY-NGƯỜI Ở LẠI TAM BIÊN

Sau khi tốt nghiệp khóa Hạ Sỉ Quan Trường Huấn Luyên Đồng Đế ở Nha Trang. Với cấp bậc Trung Sỉ, Đào Hồng Thủy đã chọn đơn vị Nha Kỷ Thuật để phục vụ đời binh nghiệp và được đưa về Đoàn 72 do Cựu Trung Tá Cẩm Ngọc Huân làm Đoàn Trưởng. Đây là thời thời gian Đoàn 72 vừa mới thành lập để chuẩn bị học khóa Chiến Tranh Ngoại Lệ cùng vơí các Đoàn 71, 75. Tất cả các Đoàn đều ở trong khu vực của vòng đai phi trường Nha Trang về hướng đường Phước Hải đi vào. Các Toán trong lúc học Chiến Tranh Ngoại Lệ gồm có 4 Sỉ Quan và 8 nhân viên Hạ Sỉ Quan  không biết TS Đào Hồng Thủy lúc đó đã ở Toán nào. Nhưng sau khi tốt nghiệp khóa Chiến Tranh Ngoại Lệ, không biết vì lý do gì mà Đào Hồng Thủy và một số anh em khác được đưa lên phục vụ ở Chiến Đoàn 2 đóng tại Kontum.  Khi Đoàn 72 được đưa lên Kontum để hành quân nhảy toán thực tập thám sát ở các rừng núi đường mòn HCM,Cao Nguyên và vùng Tam Biên Việt - Miên - Lào. Mổi lần nhận công tác xâm nhập thì các Toán đều được Chiến Đoàn 2 bổ sung thêm 2 ‘ hướng đạo ’ để trợ giúp Toán có kinh nghiệm lúc di chuyển trong đường rừng. Trong một lần công tác nhảy toán vào một vùng ‘ nóng ’ ở Tam Biên, Toán 723 của tôi được Chiến Đoàn 2 bổ sung thêm một Biệt Kích người Thượng và TS Đào Hồng Thủy ( Thủy đã phục vụ tại CD2 như trên đã nói ). Những công tác trong thời gian thực tập nầy thường đi đũ 12 người như quân số của một Toán trong hoạt động Chiến Tranh Ngọai Lệ vậy. Toán chia làm 2 tổ, gồm có bán tổ A do Trưởng Toán là tôi chỉ huy và bán tổ B do Toán Phó ( cựu T/uý Tùng ). Lúc Toán được Trực Thăng đưa vào vùng xâm nhập, máy bay của bán Tổ A luôn bay dẩn đầu để sẳn sàng nhảy xuống bải trước, sau đó máy bay của bán tổ B sẽ xuống sau.   Hôm đó, một buổi sáng nắng ráo bầu trời quang đãng trong không khí lạnh mát của rừng núi Cao Nguyên vào những ngày cận Tết năm 1971. Chiếc máy bay trực thăng bán Tổ A chở tôi cùng các toán viên Trung Sỉ Ngô Quang Đợi, Huỳnh Cẩm Sanh, Huỳnh Thanh Phong, Nguyễn Văn Thoại và Đào Hồng Thủy đang bay bám theo sau chiếc O1 của Tiền Không Sát Đại Uý Lê Đình Vủ dẩn đường vào vùng, và theo sau máy bay của bán Tổ A là trực thăng chở bán Tổ B của T/úy Nguyễn văn Tùng cùng 4 nhân viên của toán và một người Biệt Kích Thượng của Chiến Đoàn 2 đi theo. Kèm hai bên trái phải của 2 máy bay trực thăng chở Toán 723 là 2 chiếc máy bay hỏa lực Cobra, thỉnh thoảng bay lên cao rồi là xuống thấp gần sát các ngọn cây rừng trông thật ngoạn mục. Ngước mặt nhìn lên bầu trời cao xa xa, thấy thêm một trực thăng trống dùng để cấp cứu khi cần. Tôi ngồi thòng 2 chân ra bên ngoài mép trái của trực thăng cùng TS Thủy, còn TS Đợi và Sanh ngồi bên mép phải trực thăng, ngồi giữa máy bay là TS Phong và Thoại. Rừng núi vùng Tam Biên địa thế tương đối bằng bằng nên tầm nhìn con mắt khá xa với cây rừng trùng trùng màu xanh đậm trong buổi sáng trời nắng tốt. Tiếng động cơ kêu ‘ bùm bùm’ của máy bay như nhịp trống quân hành làm quên đi những lo âu hối hộp và làm dịu đi tiếng đập mạnh của con tim của buổi đầu đi nhảy toán. Thỉnh thoảng tôi đưa bàn tay lên túi áo ngực trái sờ nắn viên đá nhỏ mà tôi đã lượm bỏ vào túi trước khi lên máy bay, như một lá bùa hộ mạng và lâm râm “ ANH PHẢI SỐNG “ để đem viên sỏi nhỏ nầy trả lại cho sân bay khi xong công tác. Sau nầy, trong những lần nhảy Toán, tôi âm thầm thường làm vậy như một thói quen để trấn an những lo âu trong những lần công tác nguy hiểm, và tin tưởng “ANH PHẢI SỐNG “ để trở về.   Hơn nửa giờ bay, máy bay chở Toán 723 đã vượt qua những rừng núi bao la trong buổi sáng đẹp trời.Từ hướng xa phía trước gần sát ngọn cây, tôi thấy chiếc O1 như một con bồ câu trắng cô đơn đang bay lượn một vòng quanh vùng đất nhỏ trống trải rồi cất vút bay lên cao bầu trời ra khỏi tầm nhìn của tôi. Tiếp theo 2 chiếc Cobra như 2 cánh én đen lạng xà xuống nơi bải cỏ lau sậy ấy rồi bay lượn lòng vòng quan sát quanh vùng. Người xạ thủ đại liên của trực thăng đưa ngón tay cái ra dấu cho tôi biết máy bay đang vào vùng và chỉ ngón tay về hướng bải đáp khá trống, nơi chiếc O1 của Tiền Không Sát vừa mới bay lên. Từ trên cao tôi thấy bải đáp thưa thớt cỏ lau sậy và bao boc xung quanh là một rừng cây rậm rạp. Mắt đăm đăm nhìn bải đáp càng rỏ dần theo độ bay xuống thấp của chiếc trực thăng, và khi chiếc trực thăng chở bán Tổ A của tôi đang bay là là chầm chậm xuống bải đáp làm cỏ lau sậy nằm rạp xuống như một tấm thảm xanh mịn màng. Với phản ứng tự nhiên, tôi vội vàng vổ vai Thủy nhảy xuống bải cùng lúc. Chưa kịp quan sát thì nghe những tiếng nổ đạn bom, đất cát bắn tóe tung như xé tan màng nhỉ. Ngoái đầu nhìn lui, thấy chiếc máy bay chở bán Tô A đã bị trúng đạn phòng không của địch, đang lắc lư chậm chạp cố bay lên cao với làn khói đen dày đặc kéo theo sau, như hình một con rồng đen lướt trong gío mây.  Còn chiếc trực thăng bán Tổ B của Tùng vội quay hướng bay về phải rồi bốc lên cao lẩn trốn vào các đám mây trắng.  Hai chiếc Cobra bay lạng sát ngọn cây bắn xối xả các tràng đạn đại liên, phóng pháo M79, Rocket xuống các rừng cây quanh bải đáp. Tiếng gầm hú như phong ba bảo táp lướt nhanh của 2 chiếc phản lực cơ A37 nhào xuống lượn lên với những trái bom thả xuống quanh bải tóe lửa khói trong tiếng nổ “ ầm ầm “ như một bản hợp xướng sống động với âm thanh rùng rợn làm người nghe có thể chết giấc cho những ai yếu bóng vía. Trong giây phút đầu xuống bải đáp với lửa đạn bom rơi, tôi vội vàng đảo mắt nhìn xung quanh để tìm kiếm các toán viên. Thủy đang nằm sau bụi cỏ gần bên mé phải của tôi chỉa súng hướng về bìa rừng. Ts. Đợi cách xa tôi chừng 10m về trái, Ts. Sanh cách 5m phía sau lưng tôi, tất cả chỉ có 4 người nhảy xuống bải, còn Phong và Thoại ngồi giữa máy bay nên chưa kịp xuống thì máy bay bị trúng đạn phòng không của địch và cố gắng bay lên cao. Những tiếng đạn bom liên tục nổ từ Cobra và A37 bắn thay nhau yểm trợ, cùng B40 của địch bắn ra hướng Tổ A đang nằm nổ chát tai làm chúng tôi chẳng biết hướng nào có địch. Nằm giữa bải sau các lùm cỏ sậy chẳng có một mô đất che chở thân mình, chúng tôi chỉ biết hướng súng về rừng để mong nhìn thấy địch mà bắn trả lại thôi. Nhìn Sanh bò đến bên trái của tôi rồi vội vàng đưa ống nghe của máy PRC 25 cho tôi. Nhanh tay tôi cầm lấy áp sát vào tai và nghe tiếng hối hả của Liên Toán Trưởng Đ/U Lê Đình Vủ : H.ồ.n.g H.à , Hồng Hà đây là Vương Vủ. Hồng Hà, Hông Hà đây là Vương Vủ anh nghe được trả lời …. Mắt nhìn đăm đăm vào rừng, tay trái cầm ống nghe, tay phải cầm súng với ngón trỏ luôn dán sát cò súng Car 15. Tôi thì thầm: Hồng Hà nghe Vương Vủ 5/5. Tiếng máy khè khè trong ống nghe lại vang: Gia đình Hồng Hà cứ nằm tại bải để Zu Lu xuống cứu. Tôi chưa kịp trả lời lại Đ/U Vủ, thì bất chợt từ hướng rừng trước mặt Đợi và tôi cùng Thủy, nghe tiếng hét la lớn trộn lẩn trong tiếng nổ của súng đạn bom, tiếng được tiếng mất: N.. à..ng S.. ố n , R.. ố ..ng …h .. ế t. ( hàng sống chống chết ). Theo sau những tiếng la hét ‘ hàng sống chống chết ’ với âm giọng như là của người Thượng hay Miên Lào là những tràng đạn AK bắn về hướng chúng tôi. Tiếng đạn nghe ‘x..í..u xíu ’ làm cày xủi đất bụi bay lên quanh mình. Ba họng súng Car 15 của tôi, Đợi và Thủy cùng lúc nhả đạn khi thấy những tên địch từ rừng chạy nhào ra hướng Đợi và chúng tôi đã đốn ngã được 3 tên địch làm mấy tên còn lại phải nằm xuống. Tiếng Đợi nho nhỏ vọng từ xa: Em bị thương rồi anh Hậu ơi. Không chần chừ, như một bản tính tự nhiên tôi đáp lại để Đợi đủ nghe: Cố gắng lên em, anh Hậu không bỏ Đợi đâu. Tôi quay đầu về phải định nói Thủy bắn yểm trợ giúp tôi bò lên chổ Đợi đang nằm để kéo Đợi xuống gần Sanh băng bó vết thương. Tôi thì thầm: Thủy, Thủy. Không nghe tiếng trả lời, thấy Thủy vẩn ngồi yên mình hơi nghiêng, lưng dựa vào chiếc ba lô còn đeo trên vai. Tưởng Thủy không nghe, tôi liền vói tay lắc nhẹ chiếc balô: Thủy ..Thủy. Lần nầy Thủy vẩn im lặng nên tôi mới biết Thủy đã đi vào cõi chết từ lúc nào mà tôi chẳng hay. Thủy chết trong tư thế súng vẩn cầm tay, người hơi nghiêng và lưng tựa vào chiếc ba lô mang đầy gạo sấy 7 ngày ăn, như đang thả hồn ngắm nhìn rừng núi Tam Biên vào một buổi sáng đẹp trời …   Tôi vội vàng lấy súng Thủy ra và đưa Sanh bắn yểm trợ để tôi bò lên kéo Đợi xuống. Vừa bò đến nơi Đợi nằm, thấy cây súng Car 15 bị gãy ngang và máu bên đầu gối chân phải của Đợi đỏ sẩm cùng bụi đất trộn lẫn. Chưa kịp kéo Đơi, tôi nghe tiếng ‘ p..ì..n..h , pình ’ từ hướng sau lưng  Ngoái đầu về sau, tôi thấy một chiếc trực thăng từ trên cao bay chúi mũi xuống vội vàng nơi chúng tôi đang nằm trong tiếng ầm ầm bom đạn bắn thả yểm trợ để cứu chúng tôi.   Tôi và Sanh hối hả xốc Đợi lên sàn máy bay. Chưa kịp leo lên thì máy bay đã từ từ bay lên cao, tôi và Sanh nhanh chân đứng trên càng chân máy bay để bò lên sàn trong khi máy bay từ từ ra khỏi bải. Oái ăm thay ! trong lúc vừa bay lên cao thì người xạ thủ đại liên của trực thăng đã bị trúng đạn bị thương nặng. Từ trên cao của trực thăng, tôi nhìn xác Thủy mờ dần trong tầm mắt, xa dần, xa dần … sau những tảng mây trắng, như màu khăn tang che phủ một vòm trời của rừng núi Tam Biên vào một ngày buồn … Ngồi đánh những dòng chữ nầy để thuật lại giấc ngủ dài của Thủy ở rừng núi Tam Biên, anh Hậu xin hương hồn Thủy hảy cảm thông, thứ tha cho anh Hậu không thể đem xác em về được với gia đình của em. Cầu xin ƠN TRÊN cho Hương Hồn của em Thủy được vô NƯỚC TRỜI. Lê Văn Hậu Cựu T/Úy Trưởng Toán 723 Nhờ giúp : 1/ Ai biết cựu TS. Ngô Quang Đợi và gia đình của cố TS. Đào Hồng Thủy hiện nay ở đâu xin vui lòng cho Hậu biết tin : 716 825 2978 . Rất cám ơn . 2/ Người phi công trực thăng bay xuống bải cứu Tổ A tên là Trung Uý Du . Tôi chưa bao giờ biết mặt và một lần gặp để nói tiếng : Cám Ơn ANH . 
       TH/U LÊ VĂN HẬU DCT 72

Toán Công Tác 723 / Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật

TẠ ƠN ANH
NHỮNG NGƯỜI CỨU TOÁN 723
Anh Mẫn thân thương
Ở nước Mỹ, hằng năm vào tuần lễ thứ 3 của tháng 11 có một ngày Lễ lớn  tên là Thanksgiving Day, tiếng Việt Nam gọi là Lễ Tạ Ơn, để tưởng nhớ đến sự cứu giúp của người Da Đỏ đã chỉ dẩn cách thức trồng trọt và trị bệnh cho những người da trắng từ Âu Châu qua đây khai khẩn lập nghiệp, mà trong buổi đầu đã gặp nhiều khó khăn trong mưu sinh và bị bệnh tật về thời khí.
 Đây là một ngày Lễ rất có ý nghĩa mà các gia đình Mỹ ấm vui quây quần bên bàn ăn, với con gà tây nướng thơm phức vàng rụm cùng cụng ly với con cháu bạn bè, nhân ngày nghĩ Lễ dài để về đoàn tụ thăm gia đình.
  Hòa nhập vào đời sống với những đìều hay của Đất Nước Mỹ, gia đình Hậu hằng năm cũng nướng con gà Tây, nấu  thêm vài món ăn để có bửa cơm chiều ấm cúng với các cháu, và nhắc nhở nhớ đến sự giúp đở cưu mang của người Mỹ trong lúc gia đình đi tìm Tự Do vào ngày 20 tháng 7 năm 1993 để lánh xa bầy khỉ đứt đuôi qủy dữ cộng sản vô thần Việt Nam.
   Ngẫm suy cảm phục trước sự biết ơn nghĩa của một dân tộc Mỹ qua ngày Lễ Tạ Ơn hằng năm. Còn mình thì sao đây? Có biết ơn nghĩa trong đời không? Hay chỉ là phường bội ơn, ăn cháo đá bát như câu nói trong dân gian VN ta : “ cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán ’’.
 Không! Con tim của Hậu vẫn còn rung động trước nghĩa tình đồng đội, nên lắm lúc những hình ảnh vắng mất của đồng đội và những ân nhân cứu đời mình cứ chờn vờn trong tâm trí và luôn nuôi hy vọng có ngày sẽ tìm gặp lại. Cũng vì vậy, mà Hậu đã trăn trở nổi niềm qua Video ‘Đêm Hội Ngộ’ và bài “Đào Hồng Thủy- Người ở lại Tam Biên ” để mong tìm lại những người anh em.
  May thay! Với sự kiên tâm trong ‘niềm tin’ Hậu đã tìm lại được Huỳnh Cẩm Sanh vào năm 2007, là một người đồng đội đã bị thất lạc trong chiến trận vào năm 1973. Và hôm nay, như một phép lạ. Cơ duyên đã đến, lại đến trong mùa Lễ Tạ Ơn, đó là một sự vui mừng thỏa lòng nhất khi tìm được phi hành đòan của chiếc trực thăng cứu đời Hậu và bán tổ A/723 tại một bãi tử thần trong vùng Tam Biên vào buổi sáng đẹp trời  cuối mùa đông năm 1971.  
     Anh Mẫn ơi!
 Thật oái ăm, như một truyện phim trinh thám. Những người Hậu đi tìm bấy lâu nay, có ai ngờ đâu, lại là người đã từng ngồi bên nhau cụng ly, chụp hình trong tiệc cưới con trai  “ Rước Dâu Bằng Xe Bò” của Hậu mà nào có biết. Người phi công có tên là Du và phi hành đòan trên chiếc trực thăng ấy Hậu chẳng biết mặt mủi ra sao, nhưng hình ảnh mường tượng ấy luôn in đậm trong đầu, qua mấy chục năm nay theo bước chân thăng trầm của cuộc đời Hậu nay đã được gỉai tỏa. Nhờ nhân duyên từ một cú điện thoại của một người xa lạ ở Cali gọi đến Hậu, sau khi anh ta đọc bài Đào Hồng Thủy - Người ở lại Tam Biên trên Cánh Thép mà ai đó mới đưa lên đăng lại. Anh cho biết có người em đã tử trận tên Nguyễn Minh Chánh có lẻ học chung cùng khóa HSQ với Đào Hồng Thủy và anh ta muốn tìm hiểu về NKT. Ngưng điện thoại, Hậu vào trang web Cánh Thép trong mục Chuyện Đời Lính và thấy có một anh góp ý nói Phi Công tên Du có lẽ ở Phi Đoàn 239. Những dòng chử góp ý ngắn ngủi ấy đã làm Hậu rung động, liền vội vàng gởi email đến group NKT để nhờ ai đó biết thì xin xác nhận đúng sai. Từ đó, Hậu được email của anh Mẫn tóm gọn câu chuyện của 40 năm về trước mà sao thấy qúa trùng hợp với câu chuyện của mình. Sau vài email qua lại kiểm chứng thì Hậu đã thấy. Thấy được những người đã cứu đời Hậu mà trong đó có anh Phạm Minh Mẫn, Huỳnh văn Du, Trần Phát, Trần Ngọc Đảnh như những Thiên Thần trên chiếc trực thăng cảm tử đã nhào xuống vội vàng trong lửa đạn để cứu 3 chàng Lôi Hổ đơn độc đang chống trả địch quân trên bãi tử thần.
  Nếu ngày đó không có chiếc trực thăng cứu tinh của Phi Công Du liều mạng xuống cứu chúng tôi, thì hôm nay Hậu đâu còn ngồi gõ những dòng chữ nầy để gởi đến anh, và gia đình Hậu sẽ tuyệt dòng khi đã có 4 anh em ruột độc thân đã ngũ yên trong nghĩa trang Biên Hòa, và làm gì có hai đứa cháu nội Quân- Hưng ngày nay…
   Định mệnh đã đưa đẩy để hôm nay Hậu tìm gặp được những người cứu Hậu và bán tổ A 723.  Tiếc thay ! Hậu chưa nói được một lời cám ơn với anh Du thì anh đã gĩa từ cõi trần gần 10 năm nay rồi. Tuy nhiên, bằng mọi gía, khi Hậu biết được địa chỉ ngôi mộ của anh ỏ đâu tại WDC thì gia đình Hậu sẽ đến đó để thắp nén hương Tạ Ơn Anh, và nguyện cầu hương hồn anh an vui trong Cõi Trời Cao. Còn anh Trần Phát ở Vancouver-Canada và anh Trần Ngọc Đảnh ở Austin – Taxas Hậu đã gặp trên điện thoại với niềm vui khi nghe tiếng nói của  những người ơn trong đời mình.
  Anh Mẫn ơi!
Bốn người trên chiếc máy bay trực thăng cứu đời Hậu và bán tổ A 723, thì có 3 người ở Mỹ, chỉ còn mình anh ở lại Việt Nam. Có lẻ định số an bài  để anh mang sứ mạng đón những người anh em thất lạc trong núi rừng Tam Biên, mà hiện nay có Huỳnh Cẩm Sanh đang ở gần bên anh và khá đông các anh em của Đoàn 72 nữa. Nhờ vậy, anh em mình đã gặp nhau vào năm 2010 rồi. Nhưng! hôm nay mới đúng thực sự gặp nhau sau 40 năm tìm kiếm.
    Ngày 22 tháng 11 là ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ. Cũng như mọi năm, Hậu sẽ có bữa tiệc Tạ Ơn của Gia Đình tại đây, và đặc biệt năm nay sẽ có thêm một mâm cơm nữa để Tạ Ơn Anh ở Việt Nam. Lẽ ra Hậu phải có mặt, nhưng vì những trở ngại cách xa nửa vòng trái đất, nên Hậu không thể có mặt được. Mong anh Mẫn cảm thông. để nhờ anh làm một mâm cơm nghĩa tình , cụng ly với tất cả anh em Đoàn 72 còn đang ở lại bãi đáp. Và Hùynh Cẩm Sanh sẽ thay mặt Hậu để nói lời Tạ Ơn Anh đã cứu chúng tôi ngày ấy.
                             
             Xin Tạ Ơn Anh
                   Hậu Lê 

THE IMMORTAL 219 KINGBEE. SECTION 1 / Nhân Vật


THE  IMMORTAL  219  KINGBEE.
PHẠM  MINH MẪN
TÔI  NHỚ ÐẾN TÊN CÁC ANH VÀ CÁC BẠN 219 . (NHỮNG NGƯỜI CÒN SỐNG VÀ NHỮNG ANH EM ÐÃ ANH DŨNG HY SINH .) CÁC ANH VÀ CÁC BẠN LUÔN SỐNG MÃI  TRONG TIM TÔI, NHỮNG VUI , BUỒN , NHỮNG ÐAU THƯƠNG VÀ MẤT MÁT, MÀ TÔI LUÔN  NHỚ , KHẮC GHI TRONG LÒNG, KHÔNG BAO GIỜ QUÊN… KINGBEE 219 BẤT TỬ MÃI TRONG TÔI.
NHÂN  VẬT
     Tôi  Phạm Minh Mẫn về Phi Ðoàn vào khoảng cuối tháng 5 năm 1968  và tình hình nhân viên Phi Ðoàn lúc bấy giờ, Tôi  được nghe nhắc đến  ông Hồ Bảo Ðịnh  và ông cũng là Chỉ Huy Trưởng Phi Ðoàn 219 đầu   tiên.   Kế đến các Anh  Nguyễn Phi Hùng ( Râu km) – Lưu Văn Trâm –Tô Phùng ÐạtThoanTháiHiệpLê Hồng Lĩnh ChâuNguyễn Văn Mai - và chị văn thư tên Hải .
   Theo lời kể lại của Anh  Ðỗ Văn Hiếu thì  “ Lịch sử Trước khi thành lập PÐ 219 là  BIỆT  ÐỘI DELTA và Biệt Ðội  DELTA thì khởi đầu từ năm 1964 do nhu cầu chiến trường và thoạt đầu công việc này do các PHÐ 211 chịu trách nhiệm . Khoảng mấy tháng sau thì BTL.KQ quyết định chọn lựa các PHÐ tình nguyện thuộc hai PÐ 211 & 213  Trưởng biệt đội đầu tiên là anh Hồ Bảo Ðịnh . Khi Tôi ( Ðỗ Văn Hiếu ) , anh Nguyễn Phi Hùng và Mevo  Nguyễn Quang Hiểu đến với BÐ năm 1965  thì Trưởng BÐ là anh Trương Văn Vinh , vài tháng sau thì anh Vinh chuyển ra ÐNG (PÐ 213) Anh Huỳnh Văn Vui lên làm Trưởng BÐ . Biệt Ðội gồm có : Huỳnh Văn Vui, Nguyễn Phi Hùng , Trần Hữu Khôi , Ðinh Hữu Hiệp, Châu Lương Cang , Tống Phước Hảo , Nguyễn Văn Mành , Phan Văn Khiết , Trương Phong Trắng và  Ðỗ Văn Hiếu .
     Lúc này Anh Hồ Bảo Ðịnh & Trần Văn Luân cùng một số Anh Em khác  hoạt đông ở ÐNG , tất cả đều trực thuộc BIỆT ÐOÀN 83  do Thiếu Tá Nguyễn Cao kỳ làm Chi Huy Trưởng (nói như thế nhưng thực tế ban đầu là ông Lưu Kim Cương là người điều hành và khi ông ta sang chi Huy Không Ðoàn Vận Tải ( Không Ðoàn 33 chiến thuật ) < Sư Ðoàn 5 KQ sau này >  thì Anh Nguyễn Ngọc Khoa (Khoa Ðen)  Lên  thay thế. Sau trận PLEIME đầu năm 1966 thì BÐ giao phần trách nhiệm lại cho các Ðội TT của Mỹ và trở ra ÐNG  sát nhập với BÐ ở đây và thành lập Phi Ðoàn 219  Ð/U Hồ Bảo Ðịnh làm CHT “.
 Phi Ðoàn 219 làm việc cho Green Berets  của Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ theo chương trình OP 35 của MAC-SOG do hai ông Lieutenant Colonel WARREN và Colonel BLACK BURN  làm chỉ huy.             
 Phi Ðoàn 219 tháng 05 năm 1968 gồm có :
C.H TRƯỞNG thứ nhì   Th/T Ðặng Văn Phước.
   C.H PHÓ                 :  Ð/U    Trần Văn Luân.
   TRƯỞNG P.HQ    : Ð/U Nguyễn Văn Nghĩa
   SĨ QUAN  HL.PР    : Ð/U Nguyễn Hưu Lộc.
                                   Ð/U Tống Phước Hảo.
                                   Ð/U Ðinh Công Toản.
   Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ: Major Crossman ( 1968-1969).
              Major  Hennessy( 1969-1970).
              Major  Helm       ( 1970-1971).
              Major  Dear        ( 1971-1972).
  Sĩ Quan tài chánh MAC-SOG :
              Major Black Bird.
   Hạ Sĩ Quan liên lạc MAC-SOG  :
                         Sergeant    Amstrong.
                         Sergeant      Jonshon.
   Văn thư Phi Ðoàn : Tr/s  Nguyễn Ngọc Giao.
                           :  B2   Trung.
                           : Tr/s Ðỗ Viết Châu (1970).
   Vũ khí Phi Ðoàn   :  Tr/s Mùi.  & ….?
     Sĩ Quan Trưởng Phi Cơ Flight Leader : Các Anh Ðỗ Văn Hiếu – Châu Lương Cang – Ðinh Quốc Thinh – Bùi Văn Be – Phan Văn Thanh – Huỳnh Văn Phố – Nguyễn Qúy An -Nguyễn Văn Tưởng – Trần Văn Phước .
     Trưởng Phi Cơ và Hoa Tiêu Chánh : Nguyễn Tấn Trọng (ông gia Noel) Ngô Viết VượngÐặng  Văn CungTôn Thất Sinh – Nguyễn Hiền Nhơn – Phạm  Vinh – Nguyễn Thanh Liêm – Ðinh Thế Khúc -  Nguyễn văn Minh – Nguyễn Tấn Hiền – Trần Quang Ðệ – Nguyễn Minh Khiết ( lúc này không còn bay nữa ) – Vũ Ðức ThắngNguyễn Du -  Trần Ngọc Thạnh – Phạm Ngọc Xuân.
     Hoa Tiêu Phó : Huỳnh Xuân Thu – Phạm Văn Qúy – Trần Văn Long – Trần Quang  Trọng – Phạm Công Khanh – Bạch Mạnh Hùng – Hướng Văn Năm – Phạm Văn Thận – Vũ Tùng – Phạm Ngọc Sâm – Huỳnh Văn Du – Ðinh Văn Huê – Chung Tử Bửu .
     Mevo Phi Ðoàn : Ch/u Phan Văn Tưởng – Ch/u Nguyễn Quang Hiểu – Ch/u Hồ Văn nguyên – Phan Ngọc Hưởng – Nguyễn Văn Thanh – Phạm Văn Truật Hà Khắc Vững – Phạm Ngọc Khuê – Lê Văn Xê ( lúc này không còn bay nữa)– Nguyễn Thanh Cần – Nguyễn Kim Sơn – Nguyễn Văn Công – Nguyễn Văn Em – Lê Phước  Quý – Ðổng Minh Sanh – Nguyễn Văn nghĩa ( Già)  Nguyễn Văn Thân – Nguyễn Văn Lợi.
     Mevo bổ sung cuối tháng 5 năm 1968 : Phạm Minh Mẫn – Trần Tuấn Năng – Trần Mạnh Nghiêm Nguyễn Văn Phương – Phạm Văn Thịnh .
     Tháng 8 năm 1968  SQ về bổ sung :  Vương Văn Ngọ (213 qua) – Nguyễn Thanh Giang (215 ra) – Phạm Văn trung ( Cần Thơ ra) & Tr/u Nguyễn Kim Huờn ( CT ra ) có 1 Mevo ở PD 215 ra là Tr/sỉ Toản  và một tốp Pilot  mới về  cuối năm 1968 là : Nguyễn Hải Hoàn – Dương Văn Khải – Lê Long Sơn ( Sơn  đen).
     Ðầu năm 1969 tốp thứ hai  mới về là : Nguyễn Văn Phước -  Hứa Văn Trung – Thái Anh Kiệt – Phạm Sĩ Tài – Nguyễn Hải LộcNguyễn Ngọc Ân – Nguyễn Quang Anh – Thái – Hóa – Ðạt – Nguyễn Thế Cừ – Nguyễn Văn Vang. và cùng thời gian  đó  nhóm Si Quan khóa 21 trường Võ bị Ðà Lạt  : Nguyễn Thái Dũng – Nguyễn Văn Yên – Hà Tôn –  Phan Xuân Lễ –  Nguyễn  Côn – Lê Hữu Khiêm – Ðỗ Văn Chấn – Trần Ðức Viết –  Lê  Văn Sang.
     Tháng 12 năm 1968 về thêm :  Võ Thành Long (Long con)- Dương Ngọc Như.  Và Mevo về thêm gồm : Phạm Xuân Hùng – Hồ Ðắc Bình – Nguyễn Văn Nhất – Nguyễn Văn Bé – Nguyễn Minh Chấp , Trần Văn Ðức . Mevo Th/u Nguyễn Văn Mai (215 trở về lại PÐ 219 ).
     Tháng 10 năm 1969 về thêm: Lâm Hồng Son – Lê Thế Hùng (Ðế) – Trần Văn Sua –  Nguyễn Minh Ðường - MEVO về thêm tháng 4 năm  1969 Trịnh Xuân Kha – Lê Trung Nguyên – Trần Văn Liên – Lê Văn Tấn – Trần Khánh – Và Cần Thơ ra có Th/s Võ Văn Hồng .
     Tháng 8 năm 1970 Pilot mới về: Ðỗ Kim Long – Ngô Văn Thành – Lê Tiến Lang ( Tony Bóng ) – Bùi Tá Khánh – Phan Thành Lập - Nguyễn Xuân Bách – Thọ (râu) –  Huỳnh Tấn Phước ( Mực )  .
     Tháng 12 năm 1970 : Về Quách Ngọc Thao – Võ Văn On – Lâm Quang Long (Cồ) – Ngô Tấn Long ( Long đầu bạc) – Lại Công Ân .
     Tháng 1 và 2 năm 1971 Pilot lại bổ sung : Trần Hưng Mạnh – Nguyễn Văn Biên – Ðào Huy Tùng – Hoàng Minh Tuấn – Nguyễn Văn  Kim (méo) -  Lữ Liệt Ðen – Nguyễn Văn Hồng - Ðặng Quỳnh .
     Tháng 4 năm 1971 Pilot về thêm : Dương Văn Hoanh–Lê Phước –Trần Ngọc .   Cuối năm 1971 về  :  Lý Lạc Long Tiên – Nguyễn Thế Nghiệp -Phan  Ngọc Anh – Ðặng Chí Thông – Nguyễn Văn Tiến  - Võ Tuấn Kiệt – Lê Hồng Anh – Lương Ngọc  Ánh – Lưu Ngọc Hoàng – Nguyễn Tiến Thành – Phan Công Bơ – Nguyễn Văn Tiều – Nguyễn Ngọc (A) – Nguyễn Ngọc (B) – Nguyễn Văn Nhan – Trần Văn Hoa – Liêu Thụy Vinh  - .Ðặng Quân.
     Qua năm 1972 Pilot ở Cần Thơ ra tăng cường : Trần Xuân Thọ – Văn Hiệp – Võ Văn Còn – Trần Mộc Ðảnh – Phan Văn Phúc (nhẩy dù) – Sau tuần tự từ 1972 đến 1974  Pilot mới về thêm : Nguyễn Minh Ðường – Lê Trung Phước – Nguyễn  Hùng Lực –  Lê Hoài Phương -  Ðặng Phước – Vũ Kim Long ( Long nhí )  – Lê Văn Lập – Nguyễn Phúc Thiệu – Nguyễn Tuất – Lý Hạnh – Lý Bổn Ðường – Võ Tuấn  Kiệt – Lê Công Kiệt – Nguyễn Văn Be - Nguyễn Thành Phước (Cao) –  Trần Ngọc Sơn (Sơn mập) –Tiêu Ngọc  Hoà - Lê Tuấn  Nghĩa (ngựa ) – Duyên –Phước ( trán trợt )–  Chiểu  - Hồ Văn Ðức – Nguyễn Văn Hoè – Lý Chỉnh 229 qua 1974 – Dương Ðức  Hạnh -  Lê Văn Nãi – Nguyễn Ðình Tuấn – Phan Toàn- Lê văn Lân - Nguyễn Văn Bá.
     Tháng 8 năm 1970 : Mevo về thêm : Hứa Tiến Hưng – Nguyễn Văn Thiết – Lại Công Chính – Ðạt (lùn) – Sơn (chà và) -Tn và Bổ sung  bên 213 qua có Ðặng Văn Nữu – va Ch/u Nguyễn văn Sinh .
     Qua năm 1972 Mevo tiếp tuc về: Võ Văn Tốt  -  Nguyễn  Ðịnh  – Ðào Huy Trường – Hướng – Vũ  Văn Thanh (Cân Thơ ra) – Nguyễn  Văn Lụa (gun down Lụa) – Mai Thanh XuânTrần Văn Ðức – Nguyễn Thế Hùng – Lê Văn Vẹn – Nguyễn Phương Thảo – Phan Văn Phước – Phạm Ngọc Phục – Nguyễn Văn Quan – Võ Văn Hùng – Lộc- Ngọc – Nguyễn Văn Phụng – Phan Hiếu nghĩa –  Trần Cảnh – Nguyễn văn Mưa .
     Gunner gồm có :  Ðặng Văn Nhâm – Phạm Văn Hồng – Trần Văn Sang - Ðặng Xuân Khôi – Trần Hùng Hải (ruồi) – Thân Ngọc Hải – Nguyễn Văn Hải ( khỉ)- Trần Văn Hiệp – Nguyễn Văn Diệp – Nguyễn Thiện Trí – Trần Quang Vinh – Lại trần Việt – Nguyễn  Quang Ðạt – Nguyễn Văn Ân  – Phan Ngọc Sang – Trần Thi Huệ – Trần Phát – Nguyễn Văn Nở – Nguyễn Văn Tài – Lê văn Cải – Bảo – Quý – Ðức (mập)Hoa – Tiến (rỗ). Trần văn Nô – Lê Văn Bổn . Hoà TX-Nguyễn Văn Sang – Lưu Văn Thành.
     Qua năm 1973  Chi Huy Trưởng cuối cùng của Phi Ðoàn 219 là  Th/T Phạm Ðăng Luân. ( Lúc này Anh Phạm Ðăng Luân đang làm Chỉ Huy Trưởng Phi  Ðoàn 253 ở Ðà Nẵng và đã Hoán chuyển với Anh Huỳnh Văn Phố  để về với PÐ 219  và  đây cũng là cái duyên của Anh với Phi Ðoàn).
CÁC ANH THẦN PHONG – LONG  MÃ VÀ KINGBE  CÁC ANH ÐÃ TẠO NÊN MỘT TRANG SỬ HÀO HÙNG  CHO KINGBEE 219 NÓI RIÊNG VÀ CHO KHÔNG QUÂN  VIỆT NAM NÓI CHUNG . TRONG ÐÓ  ANH NGUYỄN PHI HÙNG ( Hùng râu kẽm ) MỘT THỜI NHỮNG AI LÀ KHÔNG QUÂN ÐỀU ÐÃ NGHE BIẾT TÊN ANH . ANH NGUYỄN VĂN PHƯỚC ( Phước đạo dừa ) NHỮNG  PHI CÔNG HOA KỲ ÐÃ CÙNG THAM CHIẾN SÁT CÁNH VỚI KINGBEE ÐỀU XEM ANH NHƯ MỘT THIÊN THẦN. ANH NGUYỄN QUÝ AN (An cào  cào) CHÍNH PHỦ HOA KỲ CA  NGỢI ANH VÀ KHEN TẶNG ANH LÀ MỘT ANH HÙNG .  VÀ TẤT CẢ NHỮNG ANH EM KINGBEE  CÒN SỐNG HAY ÐÃ ANH DŨNG HY SINH  CÁC ANH THẬT SỰ ÐÃ LÀM NÊN HUYỀN THOẠI  BẤT TỬ  VÀ ÐỂ ÐỜI CHO THẾ HỆ MAI SAU.
  (Theo đánh dấu đậm màu đỏ Từ năn 1968 đến 1975 có tất cả 53 người Hy Sinh trong cuộc chiến) và màu xanh đã ra đi vĩnh viễn do bệnh tật
     Và có hai Anh  đã gạch dưới tên khi rời 219 đã bị tai nạn và chết như Anh Phạm Vinh và chạm  máy bay L.19  tại Ðà Lạt và đả tử thương vào mùa Noel. Anh  Phạm Văn Trung về Cần Thơ sau làm Phi Ðoàn Trưởng Chinook và bị  SA.7 bắn rơi tại Cái Bè

THỜI GIAN & SỰ KIỆN Section 1



THỜI GIAN  &  SỰ KIỆN
      PHI ÐOÀN 219 Có Huy hiệu là LONG MÃ và khi làm việc với Không Quân & Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ thì họ gọi một cái tên thật  ấn tượng là KINGBEE. Phi Ðoàn Kingbee xử dụng Trực Thăng cổ điển CHOCTAW  CH.34 của hãng SIKORSKY chế tạo mãi đến cuối năm 1971 PÐ mới đổi lại TT  loại Slick UH.1  của hãng BELL chế tạo.
      Tôi được nghe Anh Đỗ Văn Hiếu kể lại cho Anh Phạm Công Khanh như sau :
     “ Tôi định nếu có rảnh  sẽ viết lại  thật đầy đủ về ngành TT trong K.L.V.N.C.H từ  ngày thành lập và gởi sang cho Khanh  để giúp ý cho mấy Anh viết về Lịch Sử KQ của chúng ta, dù sao thì Tôi cũng ở trong ngành TT khá lâu  nên tự thấy có bổn phận góp phần trách nhiệm với các Anh, về BIỆT ÐỘI DELTA thì  khởi đầu từ năm 1964  do nhu cầu chiến trường và thoạt đầu công việc này do các PHР cúa PÐ 211 đảm trách khoảng mấy tháng sau thì BTL.KQ  quyết định chọn lựa các PHÐ tình nguyện thuộc hai PÐ 211 & 213. Trưởng Biệt Ðội (BÐ) đầu tiên  là Anh Hồ Bảo Ðịnh . Khi Tôi, Anh Nguyễn Phi Hùng và Nguyễn Quang Hiểu (nhóc Hiểu Mevo  của 219 chắc Khanh còn nhớ ?) đến với BÐ năm 1965 thì Trưởng BÐ là Anh Trương Văn Vinh  và một vài tháng sau thì Anh Vinh thuyên chuyển ra ÐNG  (PÐ 213) và Anh Huỳnh Văn Vui lên làm Trưởng BÐ. Biệt Ðội gồm có Anh Vui, Hùng, Trần Hữu Khôi ( Bạn cùng khóa với tôi) , Ðinh Hữu  Hiệp,  Châu Lương Cang,  Tống Phước Hảo, Nguyễn Văn Mành, Phan Văn Khiết, Trương Phong Trắng và Tôi. Lúc này Anh Ðịnh và Trần Văn Luân  cùng một số anh em khác hoạt đông ở Ðà Nẵng và tất cả đều trực thuộc BIỆT ÐOÀN 83 do Ông  Thiếu tá Nguyễn Cao kỳ làm chỉ Huy Trưởng  (Nói như thế nhưng  trên thực tế  thì ban đầu ông Lưu Kim Cương là người điều hành và khi ông ta sang chi huy KÐ vận tải “ Không Ðoàn 33 chiến thuật “  (Sư Ðoàn 5 KQ sau này) thì anh Nguyễn Ngọc Khoa (Khoa Ðen) thay thế.
     Nhiệm vụ của BÐ là  thả các toán DELTA  dọc theo biên giới Miên-Việt (ở vùng 2 và vùng 3) hoặc vào trong các mật khu của Ðịch quân như ở Tam Quan – Bồng Sơn. Mỗi lần đi hành quân như thế kéo dài  đến 3 hoặc 4 tuần lễ. Sau trận PLEIME  đầu năm 1966 thì BÐ giao phần trách nhiệm  lại cho các Ðại đội Trực Thăng của Mỹ và trở ra ÐNG sát nhập với BÐ ở đây và sau này Thành lập PÐ 219 như các anh đã biết. “
PÐ 219   có 4 đời Chỉ Huy Trưởng :
ÐỜI ÐẦU   (Nhà Hồ) HỒ BẢO ÐỊNH.
ÐỜITHỨ 2 (Nhà Ðặng) ÐẶNG VĂN PHƯỚC.
ÐỜI THỨ 3 (NhàNguyễn) NGUYỄN VĂN NGHĨA.
ÐỜI CUỐI  (Nhà Phạm) PHẠM ÐĂNG LUÂN.
       TỌA LẠC: Phi Ðoàn 219  đồn trú tại Không Ðoàn 41 và PÐ đặt kế bên phía  trái là Phi Ðoàn 213 và bên phải là xưởng hàn, sau  lưng  PÐ là Phòng Nhân viên và phòng Tài chánh, trước mặt PÐ là Parking. Sau này khoảng giữa năm 1971 người ta xây trước mặt PÐ một Phòng Khánh Tiết để tiếp khách của Sư Ðoàn I Không Quân. Vì bị án ngữ  trước mặt nên PÐ yêu cầu thay đổi vị trí  và được chấp thuận cho chuyển xuồng khu cứu Hỏa bên cạnh Air America cũ, nơi mà trước kia mấy chàng có máu cờ bạc, hay nhờ các Anh Văn Thư  mua hộ vài cái đùi gà chiên, để thay bữa cơm trưa, trong lúc đỏ đen, không thể bỏ đi được. Ðến ngày 25 tháng 4 năm 1972 PÐ lại dời về NhaTrang và được đặt tại trại Bắc Bình Vương của  Lực Lượng Ðặc Biệt  đã giải thể và giao lại,  nằm cuối Phi  Trường có đường ra khu chợ Phước Hải. Ðến cuối năm 1973 sau tai nạn MẤT MÁY BAY . Ðể dễ kiểm soát máu truyền thống của Phi Ðoàn 219, Sư Ðoàn 2 Không Quân và Không Ðoàn 62 Chiến Thuật buộc PÐ dời ra phía ngoài sát với Không Ðoàn, đặt bên cạnh PÐ 215.
    CƯ XÁ PÐ 219 :   Ðầu tiên PÐ 219  ở hai cư xá, một là 33 Thanh Sơn ÐNG  cho mấy chàng độc thân, hai là số 4 Ba Ðình ÐNG cho NVPH có gia đình, sau Thanh Sơn dời về  số 3 Tự Ðức   ÐNG . Nơi này địch quân chú ý và đã có ý mưu đồ sát hại NVPH, Chúng cho hai cô gái trà trộn  mở quán cơm, che lều bên cạnh tường CX , máy chàng rửng mỡ  trưa chiều hay ra ngồi đấu láo, nhất là chàng Jim Khuê và Long Ðen, rất may vì chúng  gài mìn trong các lon bia và để trên cao, vô tình Anh Em dùng cơm xong đã bỏ về, còn lại Long Ðen và Jim Khuê, mìn  nổ các Bố lại ngồi ở ngoài và vì vây chỉ bị sây sát sơ sơ, Trời đất ơi các Bố lăn lóc, ôm đầu la toáng tưởng chừng như sắp chết, sau hai cô gái biến mất, truy tìm không ra và cũng từ đó  nơi cổng Số 3 Tự Ðức  có thêm hai chú BK gác , để bao vệ NVPH. Sau cùng dời về 104 Thống Nhất  ÐNG. Khi PÐ dời về Nha trang, thì cư xá độc thân ở trong trại Bắc Bình Vương  và có gia đình ở  số  5C Trại Hàm Tử  thuộc đường  Lê Văn Duyệt  Nha trang, trước mặt công Long Vân, nơi này trước kia là khu  Gia Binh của LLÐB.                 
     Tôi về Phi Ðoàn vào cuối tháng 5 năm 1968,  vào những tháng sắp sửa vào mùa mưa, nên thời tiết rất oi bức, những ngày này đi ký giấy Circuit Arrivee ở những nơi liên đới quản lý hành chánh, cấp phát quân trang ,vũ khí & tiền lương của một Quân Nhân, thật là vất vả vì từ bé đến giờ đây là lần đầu tiên đi xa và đến tận Ðà Nẵng nơi mà khí hậu chưa quen thuộc.
     Sau  đó Tôi về trình diện đơn vị mới Phi Ðoàn 219 cả 5 người được đưa vào diện kiến CHT đời thứ nhì (Nhà Ðặng) ông thật  dể dãi và gọi chief Mevo là Ch/u Phan Văn Tưởng & Ch/u Hồ Văn Nguyên vào nhận 5 người chúng Tôi, Ba Tưởng  biệt hiệu của ông như vậy, vui vẻ hướng dẫn và cắt nghĩa cho chúng Tôi về Kỷ luật và phong cách làm việc của PÐ. Còn Anh Nguyên có cái đầu nhỏ bé và cả con người cũng nhỏ bé nhưng ra vẻ rất là hách xì xằng như là một CHT nhỏ vậy, và chẳng thấy Anh bay bao giờ cả.
     Qua hôm sau chúng Tôi được đi bay ngay vi lúc đó PР đang thiếu Mevo mà nhu cầu Phi Vụ thì nhiều sau một tuần đi bay liên lạc và Huấn Luyện, chúngTôi  được cho tiếp súc hành quân.
     Lúc đầu Tôi thấy PÐ chỉ làm việc với CCN ở Non Nước gọi là trại FOB 4 & FOBI ở Phú Bài (do Th/t Hồ Châu Tuấn chỉ Huy thay cho Th/T Ðoàn Kim Tuần (Tuấn con) trại này nằm cạnh TT.HL Ðống Ða và ra Quảng Trị  chi nhánh của Non Nước và Phú Bài  do Th/T Phát chỉ huy  - Sau này mới biệt phái Kon Tum FOB 2  Trại B15  con gọi là CÐ 2 XK kế đến biệt phái  Ban Mê Thuộc (CCC) gọi là trại FOB 3 (B50) do Th/t Nguyễn Hương Rĩnh chỉ huy. Rồi sau này biệt phái Quảng Lợi ở Bình Long, và tiếp đến là làm việc cho NHA KỸ THUẬT do Ðại Tá Ðoàn Văn Nu chỉ huy bản Doanh bên cạnh trường đua Phú Thọ và trưc tiếp có Ðại diện Không quân là Thiếu tá Dư Quốc Lương, rồi sau tăng Cường Trần Ðức Viết của 219 và Phi Ðoàn 219 còn làm việc cho Căn Cứ Huấn Luyện Biệt Kích Long Thành.
     Rồi Ðà Nẵng từ những cơn nóng cháy da của mùa Hè , đột nhiên Bão đến, những cơn mưa và gió giật rất mạnh, làm cây cối ngã đổ, mái nhà bị tróc nóc, tole bay loảng xoảng, tôi thật tình chưa  được trông thấy bao giờ, trong khi Tôi đang lái chiếc xe Vespa,  của Anh Phan Văn Thanh trước cổng Phi trường, thì gió làm cho xe không thể  nào chạy được, mặc dù xe không bi hư hỏng, xuống dắt bộ cũng không xong, thế là đành phải bỏ xe lại bên lề đường , đi bộ về PÐ và lúc đó đi bộ cũng thật khó khăn. Sau nhờ bạn cùng khóa ra phụ đẩy xe về. Ðó là hai kỷ niệm về thời tiết tôi nhớ mãi, một là nắng nóng & hai là gió bão và lạnh buốt.
     Còn Kỷ niệm về  nghề nghiệp của buổi ban đầu thì thật là buồn cười, và cũng  là những bài học kinh nghiệm sau này, làm Tôi nghiên cứu và rất khá về Kỹ thuật…. Khoảng tháng 7 năm 1968  buổi chiều xem Phi Lệnh thấy ghi 6 giờ sáng mai  đi Non Nước, bay liên lạc với Anh Ðinh quốc Thinh. Sáng hôm sau Tôi dậy sớm lúc 4giờ 30, vì ở số 3 đường Tự Ðức hay đánh bài đêm nên khó ngủ, tà tà kéo lại cái khăn Phu la màu hoa cà mà Phi Ðoàn phát, chạy xe ra ngã  năm ăn sáng, Mới gọi ly bạc xỉu vì Tôi không biết uống cafée và một tô phở thi thằng Nghiêm đến la lên “Trời đất ơi  mày bay 5 giờ mà bây giờ còn ngồi đây”. Thế là Tôi chạy bay ngay vô Phi Trường , bỏ cả ấn Tín mà chạy (Hộp quẹt Zippo và bao thuốc con Mèo) vì đồng hồ  vừa đúng 5 giờ. Phi lệnh đã được điều chỉnh giờ bay, khi vào tới nơi, chỉ kip chụp vội cái nón bay chạy ngay ra Phi Ðạo, thì  Phi Cơ đã được quay máy và sửa soạn Engage cánh quạt, theo quáng tính, Tôi vội mở nắp nhớt ra  để kiểm tra, thì lập tức nhớt trong bình phun ra  đầy mặt và quần áo, rất may mà mới mở máy  chứ không bị phỏng nặng rồi, Anh Thinh vội leo xuống và đẩy Tôi lên máy bay, trong lúc trời còn tối, Anh Thinh nói “ Ði …lên nhanh lên kỹ thuật nó ra, trông tấy nó cười chết “ và Anh Thinh bay thẳng sang Non Nước, trong lúc mọi người vào ăn sáng, Tôi ở ngoài Parking cởi quần áo tắm giặt bằng xăng, cũng chỉ  trong chốc lát thôi, sạch  và khô ngay, sau đó vào Mess hall, có nhiều người nhìn Tôi vì người Tôi bốc lên toàn mùi xăng và tay khô mốc trắng lên. Từ việc này Tôi hiểu thêm CH.34  chỉ có một loại đặc biệt là CH.34 Model D được thiết kế khác với những Model khác là Clutch không phải Engage bằng Hydraulic, mà bơm thẳng  trực tiếp từ bình nhớt máy lên. Nhắc tới đây Tôi mới nhớ là hồi tháng 3 năm 1968  Tôi  thực tập ở Cần Thơ, hình như Phi Ðoàn 217 thì phải, hôm  đó Tôi  được cắt đi bay với Tr/u Quang  bay liên lạc chở một Trung Tá hai Thiếu tá và 3 Ðại úy từ BTL Quân Ðoàn 4  đến Tiểu Khu Sa Ðéc, vì không có chỗ đáp nên phải đáp tại sân vận động bên cạnh đường cái, ông Trung Tá nói làm việc một lát sẽ về ngay, nên PHÐ không phải vào, vậy mà chờ từ 8  giờ sáng đến 12 giờ trưa , vẫn không thấy ai ra  mời vào dùng cơm, Tr/u Quang, nhờ Tôi ra ngoài mua 3 ổ bánh mì và 3 bịch trà đá, ba thầy trò ngồi gặm bánh mì mãi cũng chẳng thấy ai ra, cho tới 14 giờ…. Mấy Quan mới lò dò đi ra và họ nói Tiểu Khu mời họ dùng cơm và vì mải làm việc nên quên mất PHÐ họ xin cáo lỗi…. Anh Quang nói Em cạy cái rơ le  nằm ở dưới Pilot’s Pitch Stich ( thường hay gọi là colective) và Anh đề máy, nhưng máy cứ kêu cọc – cọc- cọc mà không nổ. Anh bước xuống xin lỗi Tr/T vì  máy bay bị yếu bình điện nên không thể nổ máy được, mà bình điện máy bay hiệu số điện thế đến 28 volt, nên bình xe  hơi không thể phụ cho nổ được , hay là Tr/T nhờ  quý vị đây đẩy lui Phi Cơ xuống đầu gôn  , rồi tôi đề lại thử xem, các ngài Bộ Binh hăm hở đẩy lui máy bay và rồi đẩy tới, máy bay cứ đề, họ cứ đẩy và cứ cọc –cọc rồi lại cọc – cọc mãi cho đến cuối gôn bên kia Anh mới cho Tôi bỏ rờ le ra và rồi U..Uumm  một tiếng, những hành khách hả hê vì đây là một chiến công mà họ đã làm cho phi cơ  nổ lại được … Tôi  thật hoang mang chẳng hiểu gì cả, trong khi đó trên cockpit hai phi công thi nhau cười và Anh Quang nói “ Mẫn ơi chú không được cười đấy nhé, họ nhốt hết bây giờ đó “ thật tình mà nói  Tôi có hiểu gì đâu mà cười…. Khi về Anh Quang mới cắt nghĩa  cho Tôi  hiểu , và đây cũng là bài học kỹ thuật vui trong đời . Hồi đó các vị Sĩ Quan cao cấp bên Bộ Binh chưa hiểu gì về máy bay nhiều , sau này họ rất giỏi lại còn biết bay nữa, nhờ đi nhiểu và Pilot đã dạy  họ lái.
      Tiếp tục cho đến ngày 5 tháng 10 năm 1968 ( TAI NẠN CỦA PHР T.TRONG – SÂM – MẪN ) Ngày đầu tiên  Tôi bị tai nạn, và cũng kể tù ngày Tôi về PÐ hôm nay mới có tai nạn. 3 PHÐ biệt phái FOB.I  sáng sớm khi đến nơi  ,3 chiếc đều đồng loạt múc một cái trước trại , đánh một vòng rồi mới đáp xuống, sau đó vào Mess hall dùng bữa sáng theo khẩu phần của  người Mỹ, rồi 3 trưởng PC là Anh Phan Văn Thanh – Anh Nguyễn Tấn Trọng & Anh Nguyễn Tấn Hiền  vào nghe Briefing  còn lại vào CLUB uống nước, hay  vào phòng nghỉ chơi bài hoặc Domino, các  TPC họp xong, ra  nhập vào đám đánh bài, tất cả standing by  cho đến  10 giờ thì được lệnh đi thả một toán, ở phía Tây A SHAU gồm 7 troops Anh Phan Văn Thanh bay chiếc đầu thả 4 troops , còn Anh Nguyễn Tấn  Trọng chiếc thứ nhì  thả  3 troops  Anh Nguyễn Tấn  Hiền bay Air Cover, khi Ð/u Thanh xuống ở dưới địch quân bắn lên dữ dội, nhưng Ð/u Thanh chẳng nghe gì cả ( và mọi người cũng thường gọi Anh lá Thanh điếc) , thả xong chiếc thứ nhì tiếp tục xuống , thả 3  troops còn lại, khi vừa cất cánh lên bay vòng để lấy hướng đi lên , thì Tôi thấy rõ ràng cò mất tên VC  đang chạy và PC bị bắn trung mấy phát nghe Bộp..bộp… lúc đó Tôi thấy chùm giây  điện trước cửa phòng hành khách bị cháy, Tôi vội  tháo một găng tay ra đập , còn một găng kia Tôi  chup vào chùm giây điện nó tắt ngay, thì bất ngờ , ở dưới ù VC bắn lên ngay trước chân Tôi, Tôi  trông thấy rõ ràng sàn tàu mở ra, trong vài giây xăng phụt lên, Tôi vội đạp  lên chỗ đó, thì liền bị thêm một phát nữa và Tôi thấy Transmission ở trên đầu bắt đầu chảy nhớt. Tôi báo Ð/u Trọng, Anh nói bịt  nó lại, nhưng làm sao bịt được, lỗ đó vừa to lại vừa nóng, Ð/u Trọng nói tìm hướng đáp ,,,, thế là PC phải đáp khẩn cấp, sau khi xuống tới đất cỏ voi cao hơn cả máy bay,  Ð/u Trọng nhẩy xuống và chay rất nhẹ nhàng , hình như Anh có võ thì phải, Th/u Sâm vội  chụp cây đại liên và kêu Tôi ôm giây đạn , thật là khó chạy vì  cỏ rất dày mà giây đạn thì có khía , nên cứ giật người lại , nghe đạn  địch bắn  cóc, cóc cóc, nghe trên đầu rào.. rào.. rào, Ð/u Hiền theo dõi chúng Tôi  chạy Anh  lao xuống rước, máy bay cao thế mà Ð/u Trọng nhẩy lên dễ dàng, Tôi và th/u Sâm leo lên không được, Một Y tá người Mỹ trên máy bay và Tr/s Năng  lôi Tôi và Th/u Sâm lên, Anh Sâm lập tức nhẩy đến bên hông cửa sổ rút rulo ra và chỉa xuống , thấy vậy Tôi  cũng theo quáng tính ,bắt chước núp bên cửa sổ, móc colt 45 ra lên đạn và cũng chỉa xuồng, nhưng lên đạn vài cái cơ bẩm chạy ra giữa , thôi chết hết đạn rồi, Tôi quê quá tiu nghỉu nghồi xuồng ghế, Thật là lính  mới tò te. Sau  đó  Ð/u Thanh gọi PC oanh tạc , đến phá hủy máy bay… Khi về đến PР phi đoàn trưởng Tr/t Ðặng văn  Phước và Ð/T Khánh , ra bắt tay , ba người về từ đỉnh núi , rồi thưởng mỗi người một ly rượu mạnh, chỉ có vậy thôi… Buổi chiều PÐT Phước,  mời toàn bộ Nhân Viên Phi Hành ra nhà  Hàng Việt  Nam,  bên bờ sông Hàn, Mãi đến 31 tháng 12 năm 1968 , Từ Phi vụ này Tôi được một huy chương
Phi Dũng Bội Tinh Cánh  Chim Ðồng ,Theo QÐ số 1108/TTM/TQT.
Sau tai nạn này Tôi được thăng cấp HẠ SĨ  , kể từ ngày 09 tháng 08 năm 1968 , do QÐ số  13903/PCHC ngày 26 tháng 11 năn 1968.
     Ngày 30  tháng 11 năm 1968  ( TAI NẠN CỦA PHР MINH – NĂM – THÂN ) Bốn PHÐ biệt phái FOB.I   Trưởng Phi cơ gồm Ð/u Phố – Tr/u Minh – Tr/u Sinh – Tr/u Huờn và cũng như thường  lệ khi bay ngang trại , phải  làm động tác múc một  vòng  rồi mới đáp, có  mấy tay trưởng trại  người Mỹ, thích quay film,  những chiếc máy bay CH.34 lượn trên bầu trời, trước cổng trại và phải nói 219  có nhiều tay múc và lượn lên rất đẹp, sau khi làm thủ tục ăn sáng, trưởng phi cơ vào nghe Briefing, những người khác vào phòng nghỉ . Tôi thấy chột bụng, vào nhà vệ sinh công cộng của Team , nơi đây được cất bằng gỗ và là nhà sàn, ở  dưới có một thùng phi cắt ngang ,  trong đó có chứa một chất  lỏng , để chống bốc mùi, dung dịch này giống như dầu gazon nhưng không phải, Tôi gặp Th/u Hướng Văn Năm ngồi kế bên, hai Anh Em tâm sự nhiều … Th/u Năm hỏi nhiều về gia đình Tôi và quan hệ giữa Tôi  và Ð/u Phan Văn Thanh, Tôi  không ngờ đây là  lần tâm sự cuối cùng , của Th/u Hướng Văn Năm … Ðang nói chuyện thì chợt nghe thấy tiếng H.34 sành ..sạch.. ngoài đường, Th/u Năm la lên  , chết rồi Bay.. bay. Thế là hai Anh Em vội vàng vệ sinh và kéo áo bay lên thật lẹ làng phóng ra phía cổng, Th/u Năm người dong dỏng cao và chay thật nhanh , thế là phi vụ bắt đầu.
     Lượn một vòng 4 chiếc C H.34 lần lượt đáp xuống Phi Trường Cam Lộ , gọi là phi trường , nhưng đây chỉ là một đường đất , mới làm phẳng  và hai bên còn  đang đào  , cống rãnh ngổn ngang. Sau một lát Leader  vào ban chỉ huy  làm việc trở ra và các Trưởng PC chụm nhau lại bàn tính , cuối cùng quyết định Anh Tr/u Nguyễn Kim  Huờn ở lại,  chỉ có 3 chiếc đi thôi, vì đây là một phi vụ đặc biệt, thả một  Tù Binh về đơn vị gốc của Họ, và phía Mỹ đã Contact với  Ðịch Quân , Họ đã sắp xếp vị trí đáp , ở khu vực gần  đường mòn 922 Hạ Lào. Và Anh Huờn ở lại, theo yêu cầu của Tr/u  Nguyễn Văn Minh ( còn gọi là Anh Minh Bánh Bèo). Khoảng 14 giờ Ba chiếc H.34 lần lượt cất cánh và chỉ còn chấm nhỏ rồi mất hút tận chân trời… Còn lại ba thầy trò Huờn – Long (đen) – Mẫn, Tr/u Huờn tâm sự  “ Tôi là bạn thân của thằng Minh, vì Tôi mới ra PÐ có vài ngày , và  đây cũng là phi vụ  đầu tiên ở 219  nên thằng Minh nó không muốn Tôi đi , nên nó đã tình nguyện bay thế chỗ  của Tôi “.
     Cho tới  khoảng  16 giờ 30 , thi bắt đầu nghe tiếng H.34 và chỉ  thấy có mộ chiếc bay về , mọi người  giật mình và cảm thấy hoang mang, lúc đó mây bắt đầu thấp , và cứ nghĩ  là họ còn đang trên mây, khi Ð/u Huỳnh Văn Phố ( còn gọi là Hoàng Phố trong Z 28 của Tống Văn Bình) đáp xuống và cho biết  trong khi Ð/u Phố đáp xuống thả Tù Binh, thì hai chiếc Minh & Sinh  Air cover ở trên vì Anh Minh & Sinh bay vòng chờ   quá xa LZ ( Landing Zone)  vì bảo mật nên khu vực  khác  Ðịch Quân không biết vì thế Họ bắn phòng không lên và trúng PC của Tr/u Minh , Thấy PC xịt khói trắng và đâm nhào xuống đất gẫy làm ba khúc không nghe tín  hiệu gì cả , và chỉ trông thấy một nón  trắng văng ra, ơ dưới Ðịch Quân bắn lên như đan lưới , biết không thể cứu được Anh bỏ về, nhưng Tr/u Tôn Thất Sinh  còn ở lại  tìm kiếm, rối mọi người chờ đợi , thật là sốt ruột và lo lắng… mãi đến 17  giở 30  Trời vừa hơi sẩm tối , mới nghe tiếng máy bay, nhưng không thấy đâu cả, Ð/u Phố vội lên mở vô tuyến và liên lạc, thi thấy Tr/u Sinh  mờ mờ  trong đám  mây khói, vừa kịp chui xuống thì mây bít lại, Tr/u Sinh bước xuống máy bay và chay ngay lại chỗ Ð/u Phố, hỏi sao Anh Phố về sớm và báo tình hình của  PHÐ MINH – NĂM – THÂN., lúc đó Ð/u Phố đang ngồi dưới một thân cây khô và nhỏ nhẹ  trả lời “   Rồi hai người thân mật nói chuyện  với nhau bằng  tiếng Ả RẬP.”  Tr/u Sinh chẳng nói gì  thêm và bỏ vể máy bay của mình, anh nói với Copilot  của mình “ Anh Em khi làm việc ( ý nói Hành  Quân) , phải thương yêu nhau như Anh Em ruột và như chính bản thân mình, Ai cũng chỉ có một sinh mạng, do Cha Mẹ khó nhọc sinh ra và dày công nuôi lớn, được thành người như chúng ta bây giờ, nếu mất đi một con người, có uổng phí lắm sao, nếu chúng ta cứu được một người, thử hỏi, có phải chúng ta đã báo đáp biết bao nhiêu công lao, sức lực của đấng sinh thành rồi  không “. Ðây là câu nói của một thanh niên độc thân. Kể lại khi Tr/u Minh bị rớt, Anh Sinh bay  lượn nhiều vòng, lúc xuồng thấp, lúc bay ra xa, cố gắng  xem có ai còn sông sót, ở dưới đạn bắn lên cứ như mưa , Anh liên lạc vô tuyến cứ gọi … rồi gọi … xem Tr/u Minh hoặc Th/u Năm có còn ai trả lời không, nhưng vẫn bặt vô ấn tín, cuối cùng thất vọng, Anh đành quay trở về, nhưng khi trở về thì mây bít kín, cứ thế mà cỡi mây, Anh hỏi Copilot có bản đồ không , nhưng không ai mang theo cả, Anh hỏi xuống dưới Mevo “ Năng chú  hỏi xem nhân viên  Y Tá Người Mỹ, có mang theo bản đồ không ?” nhưng  người Y Tá này, chỉ có một cái bản đồ nhỏ ở khu vực LZ thôi. Rồi mò mẫm bay một lát sau, Mevo Năng la lên ở dưới hình như có anh đèn, Trời những tháng này mau tối lắm (người ta có câu tháng 10 chưa cười  đã tối ) vì  tháng này bước vào tháng 10 ta rồi , Anh Sinh vội  descends  thật nhanh, may sao lại đúng phía dưới  là Cam Lộ.
     Từ ngày đó, Anh Tr/u Nguyễn Kim Huờn vừa kịp ký Circuit Arrivee  về PÐ 219 , lại vội vã ký Circuit  Dèpart , Anh đi cũng phải, vì đây là nỗi ám ảnh đau thương, mà một người bạn vì thương Anh đã thế chỗ cho Anh, chắc hẳn Anh còn phải nhớ mãi điều này….
     Ðầu năm 1969 ( Tai nạn của PHР LIÊM – M.HÙNG – LỢI ) Bị bắn cháy máy bay , tại A.Shau-A.lưới , khi rơi xuống , Tr/u Nguyễn Thanh Liêm và Th/u Bạch Manh Hùng bị phỏng nhẹ Cộng  quân phát hiện máy bay rơi, đến ngay lập tức , Họ dùng mã tấu phất cỏ để truy tìm, Mevo Nguyễn Văn Lợi chạy một nẻo… hai Pilot chạy một nẻo… Hai Anh bị mã tấu phất ngang đầu, cố nằm rạp xuống để tranh phát hiện, vì cỏ cao và day, nên địch quân không phát hiện được, chỉ nghe họ chửi đổng ‘ Mẹ Bố nó… mới rơi đây mà chúng nó đã chạy đâu mất “ Rồi Họ cũng sợ bị phục kích nên bỏ đi ngay. Cũng chính vì điều này,  khi máy bay vòng chờ để tìm mà không thấy, suốt buổi sáng cho đến trưa , mới đón được hai Pilot, nhưng vẫn không thấy Mevo lợi đâu cả, và cho đến gần xế chiều , mới tìm ra Mevo Lợi . Sau chuyến này , Hai Pilot dưởng thương và về Bộ Tư Lệnh Không Quân,  nhận nhiệm vụ mới , còn Mevo Lợi được nghỉ phép nhiều  ngày , để ổn địng tinh than,  vì không bị thương , nhưng sau  đó , Mevo Lợi đã lạm dụng phép qúa lố đến vài tháng , và bị báo cáo đào ngũ. Sau phải rời PÐ.
     Tháng 3 năm 1969 (Tai nạn của PHÐ DU – SƠN  – BÌNH) bị bắn rơi gần Leghorn, Bị Ðịch Quân đuổi bắt, Tr/u Nguyễn Du chạy và bị bắn chết , còn Th/u  Lê Long Sơn ( Sơn đen) , và Mevo Hồ Ðắc Bình bị bắt, Cộng quân sợ hai người này chạy, nên bắt cởi bỏ giầy đi chân không, vì không quen đi chân không nên đau chân vô cùng. Chuyến này Ð/u Phước (Ðạo dừa Leader ).
     Ngày 4 tháng 4 năm 1969” 17 tháng 3 âm Lịch”  (Tai nạn của PHР Tr/u TÔN THẤT SINH – Th/U VŨ TÙNG – H/S NGUYỄN VĂN PHƯƠNG). Nhận Phi vụ  vào tiếp tế cho một toán Team ở ngã ba biên giới qua khỏi Leghorn, được biết  địch quân rất đông , vả họ ở vị thế  chắn ngang đường bay , vì vậy phải bay vòng qua một dãy núi rất xa,  mới tiếp tế được, khi tiếp tế xong, Tr/u Sinh quyết định bay thẳng , không đi vòng nữa, khi bay ngang  nơi địch  quân, như  đã được báo, ở dưới bắn lên như mưa, cuối cùng nghe được tiếng Anh Báo trên Vô Tuyến “ Tao bị thương rổi “ , rồi  máy bay Anh bị đâm nhào xuống , cháy ngay lập tức, Hoả lực địch quân rất mạnh , không thể nào tiến sát nơi phi cơ của  Anh rơi được , cho đến khi Fantom đến , dẹp bớt được hoả lực , cũng chỉ bay đến  gần thôi, vì địch quân vẫn chống trả,trên cao quan sát thấy máy bay của Anh ,chỉ còn lại phần động cơ phía trước , như cái cùi bắp, hoàn toàn cháy rụi


THỜI GIAN & SỰ KIỆN Section 2


Mẫn ơi,
Khơng là Sinh, Tùng, Phương đâu. PHĐ này chết bên Lào, phía tây Benhet khoảng 20 kms. Hôm đi tơi dẫn đi, lúc cất cánh từ bãi ở sườn đồi thì tơi bị bắn, ngó lại thì thì thấy cây 51 đang khạc đạn chỉ cách khoảng hơn 100m. Tơi thấy rõ cả tên xạ thủ đang ngồi sau càng súng. Nhưng không hiểu sao nĩ lại bắn hụt tơi. Lúc đó Sinh (số hai) đang cận tiến vào hover thì bị trúng và rớt ngay sát bãi. Thắng số ba vào để cứu thì nĩ thôi không bắn nữa nhưng cũng không cứu được ai.
       Ngày 17 Tháng 8 năm 1969 (Tai nạn của PHР PHƯỚC  đạo dừa– COPILOT? – NĂNG )  Phi vụ này thả Team gần Leghorn, khi đáp xuồng bị bắn, Mevo Trần Tuấn Năng bi thương nơi  cánh tay và  bàn tay trái, viên đạn trợt ngang mắt kinh Ray-ban làm gãy gong, nhờ mắt kính viên đạn trợt ra ngoài, Năng được giải ngũ từ dạo đó. Trong thời  gian này, những Phi Công Hoa  Kỳ của Phi Ðoàn 361 PINK PANTHER, thuộc Bộ Tổng Hành Dinh Vũ trang Hoa Kỳ ở Pleiku, đã hết lời tán  dương Phi Ðoàn 219 KINGBEE và Ð/U Trần Văn Phước (Phước Ðạo dừa)  trong bài viết trên tạp chí  DIỀU HÂU (HAWK) của Không Lực Hoa Kỳ, và bài viết như sau :
   “ KING BEES “ NHỮNG PHI CÔNG TRỰC THĂNG CỦA RIÊNG VIỆT NAM.
     Chiếc  trực thăng (TT)  Choctaw cũ kỹ CH.34  đột ngột nghiêng cánh, nhanh chóng lao xuống LZ, những Biệt Kích Việt Nam (BKVN) rời khỏi chiếc  Trực thăng thiện chiến. Một chiếc Slick – Huey , Cobra  AH.1G quan sát kỹ  lưỡng, tiếng gầm rú trên đầu ngọc cây, xuất hiện chiếc thứ nhì hướng dẫn,  bay cao ở phía trên là một chiếc “Snake” khác  ,truy tìm sự phản ứng của  địch quân, chiếc thứ nhì , trên chiếc này, những BKVN cuối cùng rời khỏi Choctaw, Phi Công kéo cần Colective stick bay lên, để trống khu vực, cho chiếc Trực thăng tiếp theo, đưa  BKVN vào trong LZ.
     Cuộc Hành Quân vào miền đồi núi, của những trung tâm cao nguyên Việt Nam. Nó được thi hành một cách trôi chảy,  với trình  độ chuyên môn cao, đã được phô diễn bởi những người  đồng tham dự như Những Phi Công bay trực thăng  vũ trang Cobra, từ Phi Ðoàn 361  Báo Hồng ( Pink Panther) của Bộ Tổng Hành Dinh Vũ Trang Hoa Kỳ, đồn trú tại Pleiku. và những chiếc CH.34 đã được lái bởi những thành viên của  Không Quân  Việt Nam “ Kingbees”, đồn trú tại Ðà  Nẵng.
     Hầu hết các Phi Công King Bee, đã được trải qua Huấn Luyện tại trường Lục Quân Hàng Không Hoa Kỳ, ở Fort Rucker, Alabama, còn toàn bộ những thành viên khác được tiếp nhận huấn luyện tại Việt Nam. Tiêu chuẩn thích hợp  của một Phi Công rất cao, đôi khi còn cao hơn những quy định cần phải có, của những Phi Công Hoa Kỳ. Nhưng điều kiện cần thiết của người Phi Công, phải kỷ luật  như còn ở Hoa Kỳ, thêm vào  đó, Học viên phải tốt nghiệp Học Viện.
     Ð/U Hal Manns, một Phi Công Phi đoàn 361 giải  thích ,“ KQVN là một biệt đội bay trực thăng, trong những khu vực  Hành Quân của chúng tôi. Nhiệm vụ của họ là chở Lính ; Họ không có vũ trang, vì  vậy chúng tôi chuẩn bị vũ khí cung cấp và hộ tống  trong cuộc chiến của Họ “.
     Manns nói tiếp ,“Ðôi lúc gặp những điều thú vị, như là chúng tôi có ba công việc hoàn toàn khác nhau, ở trong cùng một nhiệm vụ. Không Quân Hoa Kỳ bảo vệ bầu trời ( FACs), KQVN lo về trực thăng vận chuyển Lính, Lục Quân chuẩn bị cung  ứng  vũ trang. Nhưng chúng tôi, tất cả là một phần của Nhóm, làm việc trong  cùng một giới tuyến . Nhiệm vụ chúng tôi là hộ tống KQVN, cho cả năm và chúng tôi trở thành thật sự la một Nhóm gắn bó “.
     Ð/U Bob Garthwaite, một Phi Công Panther nói thêm “ Những Phi Công KQVN, đang nổi tiếng như Ð/U Phước  chẳng hạn. Anh ta có thể làm hầu hết mọi  điều , với chiếc CH.34  già nua của Anh ta. Tôi vừa trông thấy Anh ta bay vào  LZ mà chỉ cao 150 bộ ( cao khoảng gần 46 mét ) những cây cối bao quanh ba cạnh, chỉ có một đường bay vào và Anh ta phải bay ra cùng một lối này. Dĩ nhiên Ð/U Phước đã bay được  nhiều năm. Trên thực  tế  Anh ta đã có hơn 3,000 giờ bay, của những lần bay trên những chiếc trực thăng này, tận  dụng chúng chiến đấu.”
     Chuẩn Uùy bậc bốn ( CWO )  Mac Fall, cũng bay với PÐ 361 giải thích  “Tôi chỉ vừa đủ 1,000 giờ bay, và tôi bắt đầu bay, từ khi ra trường hai năm  trước đây. Cũng bởi thời gian bạn nhận 3,000 giờ, bạn thật sự là một Phi Công dày dạn. “
     Mc Fall còn nói tiếp “Có một ngày chúng tôi được gọi về, chúng tôi là những toán không quan trọng, không thật sự ở trong nhiệm vụ, nhưng chúng tôi mở  máy truyền tin của chúng tôi, vào tầng số chỉ huy . Nghe một chiếc trực thăng  vũ trang đã gọi báo ,Anh Ta đã bị bắn và  đang đáp khẩn cấp vào trong LZ. Hầu như ngay khi  đó,  máy truyền tin phát lên bằng giọng tiếng Anh hơi rè…rè  . Một trong những Phi Công KQVN trả lời, ( Bạn cleared  để đáp đi …….. Tôi đợi bạn ở LZ. ) Phi Công KQVN  đã bay kè theo vào cuộc hành quân, và như là một chiếc trực thăng thay thế sẵn, để dành trong trường hợp người nào đó, rơi vào hoàn cảnh khó và chúng tôi cần lúc  khẩn cấp để lấy ra . Anh ta vượt ra khỏi, lấy độ cao , để lại tiếng  sành sạch  của cánh quạt máy bay vũ trang bị nạn, bên trong LZ , đón phi hành đoàn an toàn trong tích tắc.”
     Chuẩn úy bậc bốn (CWO)  Richard Fluharty, một Phi Công PÐ 361 nói  “vài tuần trước đây, chúng tôi mất liên lạc với  Teams, suốt mùa mưa của cao nguyên. Chúng Tôi đang bay trong thung lũng phía Tây bắc Pleiku. Không  Quân dọn dẹp cho chúng tôi vào khu vực hành quân, sau đó trời mưa đổ xuống. Chúng tôi do thám LZ và gọi Phi Công KQVN vào, cố  vấn với họ về những chướng ngại địa thế trong LZ. Con chim đầu đàn bay vào, rồi khởi hành bay ra theo sau là chiếc  thứ nhì  “
     “ Vào thời gian đó , không nơi nào báo trước sương mờ ngăn đường  và mưa mù giăng lối. Chiếc tàu thứ nhì lao vào chở Lính ở trong LZ và bị bắn rất nhiều trong khi cất cánh. “
     “ Chúng tôi gọi về đơn vị  khí tượng  KQ, ở mặt đất và có sự suy đoán qua máy truyền tin rằng, chiếc tàu thứ nhì đã bị bắn rơi, nhưng chúng tôi phải bay xa khỏi LZ, bởi vì sương mù. Nhân viên truyền tin nói thêm rằng, Anh ta không thể trông thấy ngọn cây,  từ nơi Anh ta đứng.”
     “ Bất thình lình, tất cả chúng tôi trông thấy một trực thăng KQVN,  bay ra khỏi sương mù , chúng tôi nghĩ nó là chiếc thứ hai, nhưng chúng tôi kịp nhận ra là chiến thứ ba. Anh ta đã kè theo vào trong phi vụ , và ý thức nhận ra là con chim thứ hai  đã bị tê liệt . Anh ta Hover chỉ vừa 150 bộ trên ngọn cây, trong khi dõi tìm  Ðồng Ðội  của mình , rồi đáp gần tàu đã rơi  và chuyển khỏi mặt trận một cách thành công, những PHÐ gặp nạn không bị thương tích . “
     Fluharty nói thêm, “ Những người Cover đó thật tuyệt vời, họ làm mọi điều  với những con chim của họ . Ðiều đó làm tôi sợ hãi. Họ đáp ở trong LZ , với chỉ có độ hở vài  inches giữa vòng quay cánh quạt chính và cây rừng. Nói tóm lại,  chúng tôi đề nghị vào hồ sơ cho Ð/U Phước,  một huy chương NHÂN DŨNG BỘI TINH ( Distinguished Flying  Cross ) .”
     Phi Công Cobra đã kết luận , “ Chúng tôi không bao giờ lo lắng khi có họ ở chung quanh, chúng tôi tin chắc rằng , Họ sẽ vào và đón chúng tôi nếu chúng tôi bị tai nạn . “
      Tháng 5 năm 1969 ( Tai nạn của PHР CROSSMAN – THÁI – TOẢN )  ông Major Crossman là một  Phi Công bay Fixwing và là một loại phi cơ  phản lực, ông không rành về bay trực thăng, Ông về Phi đoàn 219 , Ð/u Phố và các Anh khác có huấn luyện  ông bay, ông  rất thông minh  và tiếp thu rất nhanh, sau một thời gian gần một năm trời ông chuyên cần và đã ra được  công nhận là Trưởng Phi Cơ, ông bay rất vững, và phải nói thật ,ông là người rất tốt  và có đạo đức, tất cả các Cố  Vấn  chỉ có mình Oâng là được mọi người quý mến và nhớ mãi…. Th/u  Thái cũng vừa về Phi đoàn  chưa bao lâu,  đến Mevo Tr/s I Toản, cũng vừa chân  ứơt chân ráo từ Phi đoàn 215 ra .
      Nhận một Phi Vụ đón  Team  Local, ông Crossman muốn đi thử một chuyến, nhưng khi nhận được chi tiết và địa điểm ở Núi Bạch Mã,  Ð/u Nghĩa và Tr/u  Phố  khuyên ông không nên đi , nhưng vì tự ái , nghĩ mình có thể bay vào được, thật tình lúc đó phi đoàn muốn từ chối nhận phi vụ này, vì định cắt một  phi hành đoàn khác, tìm cách  tiến đến gần LZ rồi thoái thác không vô  được, vì nơi này gió xoáy và Turbulence đánh dữ dội, phi cơ khó có thể chịu đựng được, nhưng ông Crossman cứ khăng khăng đòi đi , cuối cùng đành phải để ông bay vào đó, (Không hiểu sao lúc đo, phòng hành quân  lại cắt hai người mới theo ông )  Ðúng như dự đoán, khi ông bay vào  đến nơi, vừa  Hover để Mevo Toản thả thang  giây xuống, cho Team leo lên, thì Turbulance đánh dữ dội, ông không thể Control được, máy bay rơi xuống ngay tại cho, lúc đó Mevo Toản mới ra Phi đoàn nhận nhiệm vụ, nghe nhiều người thêu dệt là phi đoàn 219 đi hành quân, hay bị bắn, nên Anh không  dám đứng mà nằm xuồng sàn tàu, Anh cũng không biết đây là Team local, nên khi Tàu đập xuống đất, Anh bị dập ngực xuông sàn chấn thương chết ngay lúc  đó, phi đoàn phải nhờ Không Quân Hoa Kỳ, giúp cứu hai Pilot và Team ra , KQ Hoa Ky; cử một chiếc Trực Thăng CH.53, loại này rất mạnh, to lớn hơn C H.34 , khi chiếc trực thăng CH.53  đến nơi,  Hover thả  Hoist xuống , vì là Hoist, nên chỉ lên được từng người một, ông Crossman nhường cho Th/u Thái lên trước, nhưng khi  hoist  kéo Th/u Thái gần lên đến máy bay, thì chiếc CH.53 này cũng không chịu nổi gió xoáy và Turbulance, nên cũng bị rớt xuống ngay, thật không may cho Th/u Thái phi cơ to lớn rơi xuồng đã đè chết Anh. Lúc đó, Major Crossman buộc phải theo Team đi đường bộ về , Sau này ông Crossman rất ân hận, vì đã không nghe lời Anh Phố, ông xấu hổ và xin về nước, thật tội nghiệp cho ông, vì  là người  có đức tánh tốt sẽ khó tha thứ những lỗi lầm của mình , và sẽ làm ông ân hân, ám ảnh ông…
     Cũng trong tháng này, Tôi còn nhớ  lần đó PHР TƯỞNG – THU –MẪN   Biệt phái lên Kontum, máy bay quan sát đã tìm thấy một toán Team mất tích hơn 6 tháng  trời , theo tín hiệu  Si nhan (signal) thì hoàn toàn không đúng, nhưng theo một vài nhận định, thì họ là những toán Team bị mất liên lạc, Trưởng trại B.15 và trung tá Hoa Kỳ tại đây, yêu cầu Anh Tưởng thử bay lên tìm hiểu, nếu có thể tin tưởng hay có tín hiệu đúng  thì đón, đồng thời lúc đó  điện từ Nha Kỹ thuật, do Ðại Tá Ðoàn văn Nu chỉ thị, bằng mọi giá phải đón  họ, lúc đó là buổi chiều gần sẩm tối, Anh Tưởng bay vòng qua lại LZ nhiều vòng, trời một lúc một tối dần, mà LZ  lại vào vị trí nửa đường từ  B.15 đến sông Mekong, Anh Tưởng quyết định xuống thấp, nếu  họ không có phản ứng tất nhiên không phải địch quân, khi xuống thấp  bay từ từ xem phản ứng, thấy họ bật hộp quẹt Zippo tôi yên chí, Anh Tưởng nói “ Mẫn ơi nếu chú thấy họ có  động tịnh gì là chơi liền nghe không”  rồi Anh đáp xuống ba troops nhẩy ngay lên tàu, họ lộ vẻ mừng rỡ , Anh Thu nói với xuống “ Mẫn ơi coi chừng họ bóp cổ chú đó “ Tôi trả lời “ Em nhận ra họ rồi “ Anh Thu  đùa thêm “ ừ nó bóp cổ bây giờ đó” rồi Anh cười khà khà … Tôi đưa cho họ bao thuốc con mèo nho,û họ vui mừng vì từ đả lâu, họ không còn thuốc lá, họ rít những hơi thuốc mà thấy tội nghiệp, Tôi còn nhớ những người này, lúc chúng tôi thả 5 troops, họ mang theo tiền ba loại  Lào . Cam Bốt , và tiền Cụ Hồ, họ  bỏ mọi thứ trang bị vào trong những thùng nhựa vuông  màu đen, rồi chôn một chỗ trong rừng nơi họ đã đánh dấu. Trong nhóm có hai người là dân bản sứ Lào , Sau khi về  làng của những  người Lào này , hai người này làm phản ba người còn lại phải chạy thục mạng, bơi qua sông Mekong , bỏ luôn máy  truyền tin 74, khi bơi qua sông  tư đó họ mất liên lạc, sau nhiều ngày hết  lương thực họ phải ăn lá cây. Trong khóa huấn luyện mưu sinh thoát hiểm có cho biết,  những cây có lá non màu đỏ có thể  ăn  được, còn  vài bịch hành, cà rốt khô trong P.I.R  họ ngậm trong miệng từ từ để lấy  mùi vị  và cầm hơi , họ nói nếu máy bay không đón, thì họ sẽ phải lội bộ về.
      Ngày 01 Tháng 6 năm 1969  ( Tai nạn của PHР KHÚC – COPILOT ? – VỮNG )   Hôm đó Anh Khúc nhận được lệnh thả một toán team ở Quảng Ngãi, đây cũng là một phi vụ thả team local, khi đến LZ là một thửa ruộng lởm chởm , Anh Khúc vì đáp xuống ruộng quá nhanh, đã làm cho thao tác đáp xuống trở thành Forced  Landing, và vì Flare đuôi quá nhanh, đập mạnh xuống đất, Tàu xốc mạnh  tưng lên, gía súng không lốc lại, nên súng Ðại Liên đập mạnh vào mặt Hà Khắc Vững. Anh đã chết ngay sau đó. Ðến tháng 6 năm 1969 Anh Ð/u Trần Văn Luân rời Phi Ðoàn về Học Sĩ Quan Tham Mưu .
     Trong những ngày tháng này, có một lần tôi đi bay với Tr/u Phạm Ngọc Xuân, Tr/u Nguyễn Quý An Leader tại  Kontum, đi rước một toán, trước khi bay Anh Xuân có dặn  tôi, bãi  đáp  hơi Slope và cây cối chung quanh lại cao. Team đã  dùng cưa máy cưa trống  một khoảng làm bãi đáp, họ đã cắt còn gốc hơi cao , khi Anh đáp Em nhớ Clear thật kỹ nhé… Khi đến LZ Anh Xuân xuống rất nhanh , và cây cối chung quanh có cao thật , Anh Flare lại  … Tôi la lên coi chừng  cây… và nghe  bộp … bộp …bộp không kịp nữa rồi, chong chóng đuôi đã chặt  vào cây , máy bay đáp xuống đuôi rung dữ dội , Anh Xuân nói để  Tao cất cánh lấy Air speed thử coi … Nhưng vừa dở lean, thân máy bay quay một vòng,  Anh Xuân vội đè cần colective ( pitch stich) xuống phi cơ ịn thẳng xuống mặt đất, lúc đó máy bay chỉ nhích xuống phía dưới dốc  một chút xíu thôi, có thể làm cây nó đội lên ghế Mevo, là người  Phạm Minh Mẫn sẽ bị  đưa lên trên đội lên ghế Pilot , và đầu chắc phải chui vào ngực của mình mà trốn thôi, thật là may,lúc đó   cây nó lại đội lên trước mặt , tôi phải dạng chân ra , và đúng là may that,  vì  chính nhờ  gốc cây này, đã kềm máy bay lại , làm cho nó không bị lật  ngang , và không bị ngẫu lực xoắn, làm máy bay xoat tròn theo trục quay. Thật là hú hồn,  lúc bấy giờ tôi không còn biết làm gì  nữa cả, ngay khi đó Anh Nguyễn Quý  An bay ở phía trên, muốn xuống nhưng không có chỗ nào để đáp , cuối cùng Anh quyết  định đáp trên Rotor head, gác một bánh trên bầu  tròn  chính giữa Main rotor , lúc bấy giờ tôi rất lúng túng  một tay cầm Form( sổ ghi quá trình kỹ thuật lúc xuyên phi ) và bình chữa lửa , con tay kia ôm  súng đại liên 30 , trong lúc đó ông già Tưởng thả hoist xuống , Tôi chần chừ ,hai tay ôm súng và những vật dụng khác thì làm thế nào để leo lên đây , ông già Tưởng rút hoist lean, rồi leo xuông la lên  liệng hết đi thằng cù lần, thế là tôi quăng sạch. ông Tưởng chỉ vào cây súng tôi lượm lại và đưa lên cho ông , trong khi đó Anh Xuân và Anh Yên râu đã  leo lên máy bay phía trên rồi , Tôi lúc bấy giờ mới leo lên Copitch  và trèo  lên máy bay  phía trên. (Câu chuyện này không biết Anh An và Anh Xuân còn nhớ không …Sau này được Tr/u covy của CÐ 2 Nguyễn hữu Thọ kể lại đó cũng là kỷ niệm của Thọ nhảy toán lần đầu tiên kể từ ngày về đơn vị Biệt Kích.)
     Khoảng  10 ngày sau tai nạn của Anh Hà Khắc Vững  và cũng trong kỳ biệt phái này, thì PÐ 219 gặp một tai nạn  thật là nặng nề đó là  ( Tai nạn của hai PHР TRUNG – KIỆT – ÐỨC & AN – KHẢI – TƯỞNG  ) Sáng hôm đó  Trưởng Trại B15 và Th/T  Chỉ Huy phía Hoa Ky, yêu cầu Biệt Ðội 219, biệt phái tại KonTum, bay đủ 6 chiếc trực thăng  lên  ÐắcTô trực , để đón Ðại Ðội Biệt Kích trở về , 8  giờ sáng , lần  lượt  6 chiếc CH.34  rulley trên   taxiway,  từ  hướng  Tân Cảnh,  rồi vào Parking phía trái của Phi Ðạo , Hai bên  Phi Ðạo   Ðắcto, lúc này  có những ống cống , bắng tole dợn sóng mái vòm, đặt rải rác khắp nơi, có  một vài công sự  phòng thủ bỏ hoang , Tân dụng những công sự phòng thủ này, trong lúc Standing by PHÐ cùng nhau sát phạt, tôi con nhớ có lần đang đỏ đen, say mê binh sập xám, thì địch quân pháo kích ngay váo sân bay, lúc  đó Anh Trần Quang Trọng  đang mậu binh, bài ai nấy  giữ và cứ thế mà chạy, một lát sau khi ngưng pháo kích, mọi người mới trở ra , thì có một Anh…. lúc đó ai có mặt cũng đều bật cười, và có lẽ phải nhớ mãi đến ngày nay, mọi người ra rồi mà Anh vẫn còn trốn trong ống cống, buồn cười là ống cống để sát  mặt đất, không chui vào được chi lọt có cái đầu, vậy mà Anh ấy vẩn đứng, đầu ở trong ống cống mông  chổng lên trời, có lẽ Anh nghĩ bảo vệ đầu là an toàn nhất, ấy vậy mà tôi cũng có lần gặp tình huống tương tự, ngay tại B.15, khoảng hai, ba giờ sáng khi nghe pháo kích tôi vọt chạy ra, thi ngay trước cửa phòng có ụ pháo  của  trại, họ bắn trả lại địch quân , khi nghe tiếng nổ đâu kịp nhận ra là mình bắn đi , tôi hoảng hồn chạy ngược trở lại phòng ngủ và không biết làm thế nào để phòng thủ, bèn lấy  đại cái mền cuốn ngang đầu cho chắc ăn, rồi chui vào gầm giường mà trốn.
     Nhắc lại khi 6 chiếc đã vào Parking,  các TPC vào lều chỉ huy để nghe Briefing,  trong khi đó thì  đại đội  đang đối  đầu với địch quân, và quân địch chỉ toàn những chàng trai trẻ và như say thuốc, họ  điên cuồng chiến đấu , vì vậy  đại đội biệt kích  yêu cầu trực thăng khoan vào đón, để cho tình hình lắng dịu, mãi cho đến khoảng 10 giờ thì lệnh hành quân mới được tiến hành Kingbee mới khởi hành cất cánh , LZ  nằm ở vị trí phía Tây của Leghorn, một đồi thấp nằm gần một khe suối .
     Khi Anh Nguyễn Quý An vào đáp thì địch quân bắn lên dữ dội, Anh cố gắng đón được một toán, chiếc thứ nhì tiếp tục vào. chiếc này bị bắn rơi ngay tại chỗ ( Không nhớ PHÐ này là ai), Anh An quay lai đón ngay PHÐ bi bắn rơi và quay trơ về , trong lúc đó địch quân đã nắm được toạ dộ đáp  của trực thăng , vì vậy  chiếc TT thứ ba do Anh TRUNG lái, khi máy bay vứa đáp xuống thì  địch quân đã pháo vào  trúng ngay Copitch phía bên trái, Copilot là THÁI ANH KIỆT bị trực tiếp hứng viên đạn, Anh Trung  nhẩy xuống khỏi may bay, chay vào công sự, trong lúc  đó  Mevo TRẦN VĂN ÐỨC  chua biết Th/u Kiệt bị trúng đạn, đứng ở dưới Ðức nắm chân Th/u Kiệt mà lắc “ Anh Kiệt xuống …Anh Kiệt “ không nghe trả lòi Ðức  đẩy ghế Pilot chui lên . Thật   là kinh hoàng, Th/u Kiệt mất một vai trái và đầu văng đi đâu mất , những giây điện trên copitch bị đứt và cuốn ngang cổ Th/u Kiệt, cộng thêm máu thấm vào trông  như  những sợi gân đong đưa  trên cổ, Mevo Ðức kinh hoàng vội vàng  tụt xuống và chạy vào công sự, Một lát sau địch quân pháo thêm lần nữa,  máy bay bị  cháy và lần này thì Th/u Thái Anh Kiệt  vĩnh viễn không thể về với gia đình và Ðồng Ðội  được  nữa, dù chỉ là hài cốt , Anh đã hy sinh thật Anh dũng để lại sau lưng bao nhiêu bạn bè đồng đội và người thân một nỗi sót thương  đau đớn vô vàn …từ đó chiến tranh đã chấm dứt với Anh , Tôi nhớ có một câu nói của PLATE một nhà văn đã nói “ ONLY THE DEAD HAVE BEEN THE END OF WAR “ , tiếp sau đó Anh An nhiều lần xuống  đáp nhưng đều gặp sự chống trả mănh liệt của địch quân, không làm thế nào vào  được cả, đành phải quay về , tính kế khác, khi về đến Ðắc Tô  Anh được nghe qua máy truyền tin của một radioman khuyên Anh không nên bay vào, để  ÐÐBK  tỉm cách di chuyển ra hướng khác ngoài tầm ngắm của địch quân ,  nhưng Anh  ta nói thòng thêm một câu, tuy vây nhưng tùy Leader định liệu. Anh An cứ suy tính mãi, và đi đến quyết định, không thể để  PHÐ nằm lại qua đêm trong LZ được , rồi Anh nghĩ, có lẽ phải lợi dụng lúc trời tối trong khi đó địch quân sửa sọan dùng cơm , và không ngờ máy bay lại đáp ban đêm, quả là đoán như thần, Anh liên lạc trước với PHР ở dưới, đúng 19 giờ Anh cất cánh bay thẳng đến LZ, vừa đến nơi Anh lao thẳng xuống không cần đánh vòng , bật  Landing light là  đáp ngay , địch quân không kịp trở tay , Khi vừa cất cánh , địch quân mới vội vàng  bắn vói theo, nhưng không kịp , phi cơ đã lên cao và qua khỏi tầm bắn…
     Qua ngày hôm sau misson vẫn còn tiếp tục và máy bay chỉ còn lại bốn chiếc, buổi sáng khi lên đến nơi , Anh An quyết định  lên hai chiếc  là Anh  An và Anh Xuân  cùng với hai chiếc gunship và một chiềc O.2  vì Anh cũng muốn tình huống bất ngờ khi bay vào đến LZ  Anh cũng vội đáp ngay, nhưng không ngờ  địch quân cũng đã chuẩn bị trước, khi Anh vừa đáp xuống thì bị pháo ngay vào đông cơ máy bay , làm tắt máy  ngay lập tức , Anh Nguyễn Quý An và copilot Dương Văn Khải, chạy kịp lên đồi vào công sự , trong lúc đó vì bị dằn mạnh  ông   Mevo già Ch/u Phan Văn Tưởng  bị thương nơi chân, khi chui được ra khỏi máy bay, thì bị main blade còn quay chậm đập vào đùi và mông làm ông bị gãy chân, Trong lúc đó tôi đi với Anh Phạm Ngọc Xuân đang bay cover ở trên cao, khi máy bay vừa rơi xuống Anh xuân vội liên lạc ngay “ An …nghe không An … rồi Anh lại tiếp tục An… nghe không An … “ cú như thế rất nhiều lần  sau Anh la lên một tiếng  “ Chết hết … Rồi…| “  thật là não lòng  giọng của Anh đã làm cả tôi lẫn Anh Yên bật rơi  nước mắt ,  không khí  bi quan bao trùm cả bầu trời, cuối cùng cũng nghe được giọng Anh An trong vô tuyến , Anh ra lệnh không được đáp , vì lúc này địch  đang tấn công và bắn nhau dữ dội, Anh Xuân và tất cả các PHÐ khác phải quay về  chờ lệnh ,tiếp thêm nhiên liệu , sau đó liên lạc về Phi đoàn  ở Ðà Nẵng , lập tức tấp  cả các Staff  vội vành lên đường  bay thẳng lên Ðắc Tô,  gồm có các Anh Th/T  CHT  Ðặng Văn Phước , Anh Trần Văn Luân , Anh Nguyễn Hữu Lộc và Anh Nguyễn Văn Tưởng  , Khi các Staff  bay lên đến nơi cũng chỉ  là  thị sát thôi vì  tình huống lúc bấy giờ không cho  phép một chiếc nào xuống nữa cả , mặc dù Oâng già Tưởng  bị thương nặng không đi được , và cuối cùng Anh An  điện  về cho hay là Team sẽ phải  di chuyển vì lúc này hai bên đang đụng độ khốc liệt, Nước dọc theo  con suối nho,û đã chuyển sang màu đỏ, vì người chết quá nhiều dọc theo hai bên bờ suối , không thể uống được  nước này nữa , chính vì vậy Ðai đội biệt kích và Phi hành Ðoàn  của Anh An phải  di chuyển . Oâng già Tưởng sẽ do một số Anh Em Team thay thế kéo ông đi , Họ dùng hai cây rừng buộc cái  mền  hoặc  cái Pông sô cho Oâng nằm trên đó , một người  kéo ông đi .Trong lúc đó những  PHÐ ở Ðắc To,â thấp thỏm chờ  đợi … mãi cho đến chiều mới được tin từ một Radioman báo về,  họ đã di chuyển được xa vùng địch quân , đang tìm bãi để trực thăng  có thể đáp được , Rồi việc phải đến cũng  đã đến , Nhận tin báo cho biết LZ đã hoàn tất , Cuối cùng PHÐ của Anh An cũng đã được đón về , chấm dứt  nỗi đau đớn xé thịt mà Oâng già Tưởng phải chịu đựng trong suốt đoạn đường  di chuyển , vì bị kéo lê nhiều cây số đường rừng. Sau vụ này Oâng già Tưởng được giải ngũ với cái chân bị thương tật.
     Cũng trong tháng này, Anh Trần Văn Luân rời Phi Ðoàn, giao CH Phó lại cho Anh Nghĩa & Anh Lộc thay Thế  chức vụ Trưởng PHQ.
     Tháng 8 năm 1969 ( Tai nạn cúa  PHР VINH – COPILOT ? – THANH )  Tai nạn này ở  Kontum , buổi sáng được lệnh  lên tiếp tế cho đồi H.four, đồi này thoai thỏai không cao nhưng gió xoay rất mạnh , dễ bị turbulance nếu tay lái không vững  có thể bị mất tua, Anh Be cũng đã rớt tại nơi này và bị bể xương dầu phải lót một miếng Platin trên dầu. Và đúng như vậy,Khi Anh Vinh bay đến đồi H.four, đã bị turbulence làm phi cơ rung chuyển không điều khiển được, bị rơi phía dưới sát hàng rào phòng thủ, Phi Cơ bị lật ngang, Hai Pilot chay xuống phía dưới dốc, còn Mevo Thanh có kinh nghiệm hơn, Anh nghĩ máy bay bị lật ngang xăng sẽ chảy ra và theo triền dốc xăng sẽ xuôi theo  đó nếu PC bốc cháy sẽ bị cháy theo, vì vậy Anh chạy ngược lên đồi , và tai nạn đã xảy ra, Anh đạp trung mìn CÓC , và bị mất đi bàn chân trái,  Sau khi trị thương đã lành hẳn , Anh được giải ngũ.
     Tiếp đến tháng 9 năm 1969 Anh Nghĩa rời Phi Ðoàn sang Mỹ làm sĩ quan liên lạc tại Fort Wolters. TX.Tôi được lên cấp HẠ SĨ NHẤT  Ðặc cách  kể từ ngày 01 tháng 09 năm 1969 theo QÐ số 55252/TTM/KQ ngày 29 tháng 09 năm 1969. Lúc đó các khóa đàn Em ra trường đều là Trung Sĩ . Chính vì điều này Bộ Tư Lệnh KQ mới điều chỉnh lai cho Tôi là lên TRUNG SĨ  diều chỉnh kể từ ngày 18 tháng 07 năm 1969 theo QÐ số 5290/TTM/KQ ngày 11 tháng 04 năm 1970
     Ðến cuốn năm 1969 tiếp tục Anh Tống Phước Hảo & Anh Ðỗ Văn Hiếu cũng  sang Hoa Kỳ làm Sĩ Quan Liên lạc tại Fort Hunter.
     Lúc này Anh Nguyễn Hưu Lộc thay thế Phi Ðoàn Phó